Thursday, 21/05/2020 - 04:35:05

Thương quá khoai đậu mè quê mẹ

Nhiều người ở các huyện ven biển Quảng Điền, Phú Vang chuyển hướng qua nuôi trồng thủy hải sản. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 

Bài NGUYÊN QUANG

Xưa nay đều vậy, hễ nhắc đến bà mẹ quê, thì người ta nghĩ ngay tới một bà mẹ nghèo, sống lam lũ và quanh năm suốt tháng vui với ruộng vườn, đàn gà, nghèo khổ, thanh bần… Và giả sử có một bà mẹ nào đó sống ở quê mà giàu có, biết hưởng thụ, xì tin thì người ta gọi đó là bà mẹ tây sống ở quê hoặc bà mẹ thành phố sống nhầm chỗ… Nghèo như một định mệnh của mẹ quê, xưa hay nay đều vậy! Và nói tới mẹ quê, nhất là mẹ quê thời công nghiệp du lịch phát triển, ít nhiều cũng có hình ảnh một bà mẹ quê mang trái cà, trái dưa, trái ớt, củ khoai, củ đậu ra ngồi chợ đầu làng hoặc dựng một túp lều lá bên cạnh lề đường để bán, có khi bán cả ngày chẳng được bao nhiêu đồng nhưng đối với các mẹ, đó là cả một quá trình bứt phá, cách tân!

Vẫn còn thở được…

Mùa dịch kéo qua, thành phố hay làng mạc đều xơ xác theo đúng nghĩa đen của nó. Mặc dù không đến nỗi chết chóc, không đến nỗi nhà nhà đóng cửa không dám nhìn mặt nhau vì sợ… Nhưng, khi thế giới đông cứng thì thành phố hay làng mạc đều giống nhau cả thôi. Nhất là làng mạc ở một đất nước mới thoi thóp phát triển sau nội chiến, câu chuyện kiếm sống trở nên trắc ẩn và day dứt với các bà mẹ quê gấp nhiều lần, khó nói cho trọn!
Suốt ba tháng dài kể từ Tết Nguyên Đán đến nay, dường như người nông dân Phú Vang, Quảng Điền - Thừa Thiên Huế bị bó gối bên cồn. Sở dĩ nói bó gối bên cồn bởi đây là vùng đất khá đặc biệt. Nằm cách thành phố Huế một cái phá vốn nổi tiếng dữ dằn trong dân gian - phá Tam Giang. Và đời sống gói gọn trên một doi cát cùng nhiều cái tên làng, xã gắn lên đó. Nhưng nhắc tới những cái tên làng, xã này cũng khiến cho người ta nghĩ đến một thứ gì đó hoang vu, xa lạ, ví như núi Đọi, Khe Rú, Rú Chá...


Không phải ai cũng có cơ hội đổi nghề khi đa số đất thuộc vùng đầm phá đã có chủ. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 

Người dân nơi đây sống dựa vào hai nhóm nghề chính, đi biển và trồng trọt, hiếm hoi lắm mới có thêm người làm thợ sắt, thợ mộc, chăn nuôi qui mô hay ra ngoài làm thuê. Hầu hết đời sống gói gọn trong một thế giới rất riêng, trong một động cát mà trèo lên đồi cao có thể nhìn thấy biển, nhìn thấy thành phố bên kia cánh đồng và bên kia sông, bên kia phá. Dịch cúm Vũ Hán kéo qua, dường như không ảnh hưởng gì đến nhịp sinh hoạt của người dân nơi đây nhưng lại ảnh hưởng nặng nề đến đời sống. Nghe tưởng vô lý, nhưng như lời o Thục, một người mẹ của sáu đứa con quây quần bên nếp nhà sơ sài, thì, “Ban đầu o tưởng rằng nó không ảnh hưởng chi. Nhưng rồi ảnh hưởng nặng nề lắm. Ai cũng bị ảnh hưởng hết!”
“Ảnh hưởng ra sao vậy o? O vui lòng cho con biết rõ hơn?”
“Thì bà con mình vốn sống co cụm ở đây, người ngoài ít vào đây vì đường xa, khó đi, dân còn nghèo quá, và người ở đây cũng ít ra ngoài vì quanh năm suốt tháng lo mần ăn, ra ngoài làm chi, đi một xíu là tốn tiền thêm khổ. Cứ tưởng vậy là yên ổn, ai ngờ nó không gây mình bệnh chết mà có nguy cơ gây đói chết. May răng (sao) cũng chưa có ai nhiễm bịnh. Nhưng không mang đồ ra chợ để bán, cũng chẳng có nhà buôn nào tới đây mua thì cũng khổ lắm cậu ơi!”


Lăng thờ Ngư Ông Nam Hải ở nghĩa trang làng. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 


“Mùa thu hoạch khoai lang, đậu phụng rơi vào tháng mấy vậy o? Mùa này thu hoạch có bị ảnh hưởng dịch không?”
“Mùa thu hoạch thường bắt đầu từ hai-mươi tháng Hai cho đến cuối tháng Năm âm lịch, tùy vào chỗ đất cao hay đất thấp, đất càng cao thì mình thu hoạch càng sớm vì trồng trọt vào mùa đông, dựa nước trời, đến đầu năm thì khô dần, cũng là lúc có trái đậu, củ khoai mà thu hoạch. Ở đây giờ còn có thêm nghề nuôi trồng thủy sản nhưng nói chung là mọi nghề đều đứng khựng do dịch. Bà con trồng trọt, chăn nuôi và đi biển, mọi khoản chi tiêu đều dựa vào đó. Nhưng những cái đó mà không bán được thì khổ lắm. Nhất là khoai lang, nếu bán không kịp thì chỉ có xắt phơi khô. Nhưng bây giờ ít ai mua khoai lang khô lắm, chủ yếu mua khoai tươi thôi. Mà khoai tươi bán không kịp thì sượng (mất tinh bột) hoặc là mọc mầm, không bán được!”
“Con thấy ở chợ vẫn có nhiều củ khoai người ta bán đã mọc mầm đó, đâu có sao đâu o?”
“Ờ, tại vì họ nhà buôn, bỏ tiền ra mua nên phải bán để gở vốn, chứ mình nhà nông, đâu nỡ làm vậy, hỏng thì bỏ chứ biết làm chi!”


Mọi ngành mọi nghề điêu đứng vì dịch, những căn chòi được dựng lên nhưng thi thoảng các mẹ quê mới bán vì cũng không có mấy người mua. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 


“Nhưng nhà nông muốn có củ khoai cũng phải trồng trọt, chăm bón, đầu tư chứ khoai đâu có tự mọc hả o?”
“Biết là vậy, nhưng cái vốn mình bỏ ra ít hơn so với nhà buôn.”
“Như vậy là o đồng tình với nhà buôn?”
“Nói vậy thì tội cho o, làm sao mà đồng tình được! Nhưng mà thôi kệ, đời mà cậu, làm sao mình bắt người ta phải giống mình chớ! Đồng tiền nào cũng xót xa cả. Nhưng làm vậy cũng tệ thiệt, vì lỡ người ta ăn vào, bị bịnh thì chết. Khoai để mọc mầm rồi ăn dễ đau bụng lắm. Chắc bụng như o đây mà còn sợ, người thành phố họ ăn chín uống sôi thì bụng yếu, dễ bịnh lắm!”
“Mình bán như vậy có đỡ không o?”
“Sau giãn cách bán cũng được chút đỉnh cậu ơi. Nói chung là thở được!”

Buồn quen rồi nên chẳng biết buồn là gì

Mấy chữ vẫn còn thở được của o Thục nghe hơi nghèn nghẹn, bởi tôi cũng không muốn (hay không dám) hỏi thêm. Trung bình một ký khoai lang 15 ngàn đồng ($0.64), một ký đậu phụng 30 ngàn đồng mà các o xem như một thành tích phá cách, bứt thoát khỏi lũy tre làng, dám ra đường bán để gần với giá thị trường. Nếu như bán cho các đầu mối thì giá chưa tới 50% giá bán ven đường, chính vì vậy, mưa nắng gì các o cũng chấp nhận đứng bán. Trong khi đó, chữ thị trường của các o chính là chợ làng. Chứ thực ra, một ký khoai lang ở đây, giá phải gấp ba giá khoai lang nơi khác nếu bán trên thành phố. Bởi khoai lang hay đậu phụng sống trên thổ nhưỡng phù sa pha mặn có hàm lượng dinh dưỡng rất cao và mùi vị đặc biệt hấp dẫn.

Thế nhưng mọi thứ vẫn cứ co cụm trong mấy rặng dương, trong vài đám cói mọc lên theo mùa, đến khi cói trổ bông, người ta rủ nhau cắt về dệt chiếu cói, xem như đây là món quà của thiên nhiên ban tặng. Và cói cũng là nơi của một số loại hải sản trú ngụ, sinh sản. Nhưng cói cũng rất hạn chế bởi đất cũng không nhiều mặc dù mênh mông đất nhưng không thể trồng cây, mặt nước cũng không nhiều mặc dù mênh mông nước nhưng dường như đã có chủ, không phải ai muốn nuôi trồng thủy sản cũng được. Bởi vậy nên mọi thứ mới co cụm, mới buồn. Như lời của o Dung, một người mẹ của gia đình bốn đứa con (hình như các o ở đây sinh con nhiều, ai cũng sinh bốn, năm, sáu đứa con), thì, “Ở đây vui vì đông con đó chú!”


Nghề nông như một bến đỗ cho người già ở quê. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


“Dạ, đông con thì vui, nhưng lúc nuôi thì khổ lắm đúng không o? Nhất là lúc còn nhỏ?”

“Ừ, nhưng cũng buồn, vì mình sống nơi hiu quạnh, mà càng hiu quạnh thì càng đẻ nhiều, mà o nói cho mà nghe, khoai lang ở đây lạ lắm, ăn nhiều là đẻ nhiều à. Cái này o chứng thực, bởi có hai năm làng không trồng khoai, đổi sang trồng thuốc lá thì chỉ có bốn đứa trẻ ra đời. Vậy mà làng trồng khoai trở lại, đếm không xuể. Cái này là khoa học đó nghe, không biết các nhà khoa học họ có nghiên cứu về cái chất khoai không chứ hay lắm đó nghe!”
Nói xong, o vẫn nghiêm túc, không cười, thậm chí trong ánh mắt của o còn có điều gì đó hãnh diện như mình vừa trưng ra được một phát kiến khoa học.
“Làng mình đông trai trẻ, sức lao động tăng, có khá hơn chứ o hả?”
“Ừ, giờ khá hơn nhiều, cũng có vài đứa học tới đại học lận đó. Nếu mà tính chung cả dải đất dài dọc theo phá Tam Giang này thì có lẽ cả trăm cử nhân ấy chứ. Đó là nói cử nhân xịn, cử nhân tự học mà có đó nghe. Chứ hạng tiến sĩ bây giờ nhiều lắm nhưng không kể vô đâu được.”
“Vì sao vậy o?”
“Vì mấy cán bộ xã bây giờ nhiều người có bằng trên đại học, thạc sĩ hay tiến sĩ chi đó, mà đâu có thấy họ học hành chi đâu. Họ lấy ngân sách nhà nước đi học tại chức, trong thời gian học thì cũng chẳng tới trường mấy đâu, ngồi ngoài quán nhậu, quán cà phê thôi, chỗ nào kín là có họ, nhậu xong lại đánh bài, làm chuyện động trời… Nhưng dân vác cái đơn tới xã nhờ ký giùm chuyện gì đó thì tìm cả tháng cũng không ra họ vì họ bận đi học. Học hoài, nhiều khi bực quá, o nói sao không kiếm đứa có chữ về làm quan mà cứ lấy mấy thằng dốt về rồi nó đi học hoài vậy, lấy ai mà phục vụ nhân dân… Mình nói thì nó nghe vậy thôi chứ như vịt nghe sấm à! Khổ lắm!”


Không biết rồi mai đây, khi du lịch ghé đến vùng đất nắm giữ nhiều kho báu về tình người này, người nông dân có còn trụ vững được không. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 


“Làng mình có được cứu trợ sau đợt dịch không o?”
“Nghe nói có, nhưng chưa thấy có. Nói chung mình ở đây xa quá, làm sao mà nghe được cho thấu tiếng còi hụ ngoài trung ương hay trên tỉnh. Biết vậy thôi chứ còn khó nói lắm. Mà ở đây chẳng ai trông chờ như vậy, làm để sống thôi!”
“O cho con hỏi thêm, thanh niên làng mình có theo nghề nông nhiều không o?”
“Nghề nông là một cái bến đỗ cho người già, người cao tuổi thôi, mấy đứa trẻ bây giờ chọn ra khơi, hoặc là chọn đi làm thuê. Nhưng đi làm công nhân ít lắm. Vì ở đây người ta quen sống tự do, giờ chấp nhận đói một chút để ra khơi, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản mà sống thảnh thơi, vì đói chung nên chẳng còn biết buồn là chi. Mà chắc chi bữa cơm 20 ngàn đồng ($0.85) kém ngon so với bữa cơm 200 ngàn đồng! Sống thấy an nhiên mới quan trọng.”
“…”
“Ngày xưa cha ông của o ra đây là vì hết đường, hồi đó rừng rú và sóng, hoang vu không chi bằng. Giờ thì đỡ hơn. Cách đây chừng hai chục năm, ở thành phố họ nói về ngoài này cứ như nói về một bộ lạc nào đó xa xôi lắm. Giờ thì họ tìm hiểu, họ mới thấy mình có những nét văn hóa riêng, họ muốn khai thác du lịch.”
“Ở đây có nhiều lễ hội không o?”
“Không nhiều lắm đâu, như lễ hội cầu ngư thì mọi vùng biển đều có, lễ hội tế Ông (tức cá voi) thì rất lớn và thành tâm, có thể nói đây là lễ hội lớn nhất của vùng. Người ta quan tâm lễ hội này và quan tâm đến bờ biển ở đây vì sóng hiền, đẹp, họ kêu con người thật thà nữa” (cười).


Khoai được trồng ở dải đất cát dựa một bên là phá, một bên là biển này nhìn bề ngoài đã thấy khác hẳn khoai trồng ở các vùng đất thịt hoặc đất núi. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 

“O thấy mình có thật thà không?” (cười).
“Cái này cậu thấy sao?”
“Để cho con suy ngẫm nha.” (lại cười).
Tạm biệt o Dung, tôi thấy có chút niềm vui mà cũng có chút buồn buồn với những người mẹ này, những người mẹ đã gắn tâm hồn với đất, với sóng gió và giữ mực hiện hòa trong từng lời ăn tiếng nói, họ chỉ biết dạy con sống thật thà, yêu thương, tình làng nghĩa xóm và họ đang nắm giữ trong tay một kho báu vô tận của một ngành nghề hái ra tiền du lịch. Nhưng, liệu khi du lịch đến, họ có tồn tại được không trước trận gió quá kinh khủng của lợi ích nhóm và vô cảm! Tự dưng thương củ khoai, trái đậu và những giọt mồ hôi của người mẹ quê!

 


Trồng khoai không biết liệu có ăn nhiều đẻ nhiều giống như lời một bà mẹ quê ở đây không. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Bán nông sản ven đường sẽ được giá hơn bán cho các nhà buôn. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Nhổ đó, hái đó rồi mang bán ngay trước đường, hoặc cũng có thể một hôm hết việc vườn việc ruộng thì các o, các mẹ lại mang nông sản ra đường ngồi bán. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp