Friday, 18/03/2016 - 10:15:56

Phủ Tùng Thiện Vương (kỳ 1)

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”

Đó là hai câu thơ vua Tự Đức ca tụng hai nhà thơ đương thời: Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương.(1) Ý
Vua Tự Đức muốn nói:

Tùng Thiện Vương



Câu trên đem văn của Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) và Cao Bá Quát (1809 - 1855) so với văn thời tiền Hán thì không thể có. Câu dưới: thơ của Tùng Thiện vương Miên Thẩm (1819 - 1870) và Tuy Lý vương Miên Trinh (1820 - 1897), so với thơ thời thịnh Đường thì cũng không theo kịp.



Trong bốn danh sĩ trên, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (anh) và Tuy Lý Vương Miên Trinh (em) là hai vị hoàng tử con vua Minh Mạng (1820 - 1841). Đó cũng là hai ông hoàng của thi ca thời Nguyễn. Hai ông được người đương thời tôn vinh là Thi Ông (Tùng Thiện Vương) và Thi Bá (Tuy Lý Vương). Vương phủ của hai ông nay vẫn lưu dấu nơi xứ Huế, trở thành những di tích lịch sử văn hóa của cố đô.
Theo sách Tùng Thiện vương (Ưng Trình và Bửu Dưỡng biên soạn, xuất bản năm 1970), thì: “...các hoàng tử lên 18 tuổi, phải xuất phủ, nghĩa là phải ra ngoài Tử Cấm Thành, biệt lập gia đình....”



Tùng Thiện Vương đã lập phủ, ngang với phủ Tuy Lý Vương, tại phường Liêm Năng trong Thành Nội. Phủ của hai ông hoàng Miên Thẩm và Miên Trinh nằm sau Cơ Mật Viện.

Dù đã được triều đình ban đất để dựng vương phủ ở trong Kinh Thành, kế bên Hoàng Thành, nhưng ông hoàng Miên Thẩm vẫn muốn thoát khỏi vòng cương tỏa của Hoàng gia, sống nơi thôn dã để tiện bề giao lưu thi phú với các tao nhân, mặc khách bên ngoài Kinh Thành.



Vì thế, năm 1846, Miên Thẩm đang thụ tước Tùng Quốc công, đã bỏ tiền riêng mua một khoảnh đất rộng ở bên dòng sông Lợi Nông (sông An Cựu), tự tay kiến thiết, xây dựng, đắp núi đào hồ, lập nên Tiêu Viên và rước mẹ là bà Thục tân Nguyễn Thị Bảo từ trong Đại Nội về đây để chăm sóc, phụng dưỡng. Đồng thời dựng Ký Thưởng Viên để làm nơi ngâm vịnh thơ văn cùng là nơi tiếp khách văn chương thi phú.
Năm 1849, Án sát tỉnh Quảng Tây là Lao Sùng Quang được nhà Thanh cử làm Khâm sứ, dẫn đầu sứ bộ của Thanh triều đến kinh đô Huế để tuyên phong cho vua Tự Đức (1848 - 1883). Đây là lần đầu tiên một sứ bộ của nhà Thanh trực tiếp đến Huế để tuyên phong cho một vị vua triều Nguyễn, thay vì vua Nguyễn phải ra Hà Nội để thụ phong như trước đây. Lao Sùng Quang là tiến sĩ đệ nhị giáp của Trung Hoa, có tiếng là người “văn hay chữ tốt”. Vì thế, trước ngày Lao Sùng Quang đến Huế, vua Tự Đức và triều thần đã sai Nội các và Hàn Lâm viện tuyển chọn những kiệt tác văn chương của các danh sĩ triều Nguyễn như: vua Tự Đức, Miên Thẩm, Miên Trinh, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Phan Thanh Giản, Hà Tôn Quyền… in thành tập Phong nhã thống biên, vừa làm “quà” nghênh tiếp Lao Sùng Quang, vừa “ngầm khoe” văn tài của học giới nước Việt bấy giờ.

Lao Sùng Quang đến Huế, sau khi đọc tặng phẩm Phong nhã thống biên, thì lấy làm nể phục các văn nhân, danh sĩ của triều Nguyễn, đặc biệt là với Tùng Quốc công Miên Thẩm, người có nhiều thơ văn được tuyển in trong Phong nhã thống biên. Vì thế, ở Huế chưa được mấy hôm, Lao Sùng Quang đã thân hành tìm đến Ký Thưởng Viên để đàm đạo văn chương, thế sự với Tùng Quốc công. Cuộc bút đàm giữa Thi Ông nước Đại Nam với vị tiến sĩ nước Đại Thanh ở Ký Thưởng Viên là một sự kiện trọng đại đối với vương phủ này. Chính ở đây, Lao Sùng Quang đã viết hai câu thơ ngợi khen văn tài của Thi Ông:

“Độc đáo bạch âu hoàng diệp cú.
Mãn hoài tiêu sắt đái thu hàn”
(Ưng Trình và Bửu Dưỡng dịch thơ:
Đọc đến câu “Bạch âu hoàng diệp”
Cả người ớn lạnh với hơi thu.)

Năm 1929, vua Bảo Đại truy phong ông là Tùng Thiện Vương, tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.
Sự nghiệp trước tác của Tùng Thiện Vương rất phong phú (14 tập). Trong số đó đáng kể là Thương Sơn thi tập, gồm 54 quyển chia ra 8 tập với hơn 2,200 bài thơ. Các tác phẩm khác: Thương Sơn từ tập, Thương Sơn thi thoại, Thương Sơn ngoại tập, Thương Sơn văn di v.v.



Thơ của ông dù viết theo thể loại nào (hành, dao, thán, từ...), dù mang nội dung cảm hoài, ngôn chí hay thù tạc..., tất cả đều giản dị thi pháp, ý tứ thâm sâu, chữ nghĩa chọn lọc, và gần gũi đời thường. Thơ ông chứa chan tinh thần yêu nước, thương dân, tận tình với bè bạn. Một số bài tiêu biểu: "Phù Lưu Tiền Hành", "Mại Trúc Dao", "Kim Hộ Thán", "Bộ Hổ Từ"...

Phù Lưu Tiền Hành
Sớm vừa dâng “tiền trầu”
Tối lại dâng “tiền trầu”
Quan trên có xơi trầu,
Dân dưới mới sạch oan …

Mại Trúc Dao
Trong vườn tre tựa núi gò
Vác ra, tiền chẳng trả cho đồng nào
Nín thinh thì khổ xiết bao
Nói ra, roi sẽ vụt vào chú thôi
Ôi, than ôi! Bước chân về nước mắt rơi đầm đìa…

Kim Hộ Thán
Núi cao, vị nước độc
Chó sói, cọp rình rập hai bên đường
Áo rách không che được ống chân
Mặt vàng, da thịt khô héo
Chỉ cầu đủ nộp thuế…
Cay đắng thay thuế thường khó nộp đủ
Đành chịu làm tàn tật tấm thân hèn …

Bộ Hổ Từ
Thôn Nam có cọp về nhiễu hại
Dân làm đơn cáo với quan trên
Một đàn lính phủ kéo lên …
Toàn dân gạo rượu để dành lính xơi
Hôm sau cọp tới lui trong núi
Dân Bắc thôn đều phải nín thinh
Cam tâm để cọp hoành hành
Dẫu người có chết, gia đình còn no …

Theo sử ghi, sau đám tang vua Thiệu Trị (1847), hai người cháu ruột của ông là Hồng Bảo và Hồng Nhậm cùng tranh giành ngôi vua, mở màn cho một bi kịch chốn vương triều. Cuối cùng, Hồng Bảo bị hạ ngục vì tội liên hệ với "bên ngoài", để rồi phải tự tìm cái chết thân còn mang xiềng xích. Thảm cảnh đã được ông khéo gửi gấm trong một bài thơ khá dài: "Quỷ Khốc Hành".
Năm 1866, cuộc biến động ở Khiêm Lăng (loạn Chày Vôi thời Tự Đức) do chính con rể của ông là Đoàn Hữu Trưng cầm đầu, một lần nữa khiến lòng ông nhức nhói đến cuối đời.



Về sau, vua Tự Đức xét ông vô can, nhưng chính nỗi đau mới này cùng với lo toan dân tình, vận nước; tất cả khiến ông thêm chán ngán cảnh điện ngọc, cung son, tinh thần ông thêm suy sụp, cơ thể gầy gò, sinh bệnh liên miên. Ông viết:

Lờ mờ học Đạo nửa đời người
Trúc dép, đường đi mới rõ mười
Thiên Mụ, Thánh Duyên trăng với sóng
Bóng rừng, hương nước, có còn ai?
"Tuyệt Bút Từ", 1870

Vào thời Tùng Thiện Vương nổi tiếng là Thi Ông, tại kinh thành Phú Xuân (Huế) đã xuất hiện một số nhà thơ Hoàng tộc Nguyễn Phúc: Nguyễn Phúc Miên Trinh, Nguyễn Phúc Miên Bửu, công chúa Mai Am (tất cả đều là em của ông) cũng là những nhà thơ tiếng tăm ai ai cũng biết.
Ông sống trong một giai đoạn lịch sử hết sức rối ren: nội bộ triều đình lủng củng, rạn nứt, loạn lạc khắp nơi, thiên tai gây mất mùa nhiều năm cùng nạn ngoại bang xâm lấn, nhưng theo quy chế nhà Nguyễn, các ông Hoàng không được đi thi, ít được tham gia chính sự nên khó xác định được tài năng thật sự của ông trong các lĩnh vực khác (kinh tế, chính trị, quân sự...).



Tại Ký Thưởng Viên, ông lập ra Mạc Vân thi xã và ông là "Tao Đàn Nguyên Súy" tập họp được nhiều danh sĩ, trong đó có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát... Về văn nghiệp, ông là một nhà thơ chữ Hán bậc thầy, được các danh sĩ đương thời, kể cả vua Tự Đức, nhờ duyệt thơ và được một số nhà thơ Trung Quốc đánh giá cao, trong đó có Tiến sĩ Lao Sùng Quang (nói ở trên).
Trong bài đề tựa Thương Sơn thi tập của ông, Cao Bá Quát viết:
“ ...Tôi theo Quốc công (Tùng Thiện Vương) chơi đã lâu. Thơ của Quốc công đâu phải đợi đến ngày nay mới nói đến? Và cũng đâu phải đợi đến Quát này mới có thể nói được? Sáng ngày mai, đứng ở ngoài cầu Đốc Sơ trông về phía Nam... đó chẳng phải là núi Thương Sơn ư? Mua rượu uống rồi, cởi áo ở nơi bắc trường đình,
bồi hồi ngâm vịnh các bài thơ "Hà Thượng" của Quốc công, lòng khách càng cảm thấy xa xăm man mác...”
Mạc Vân thi xã gồm những nhà thơ:
Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Tương An Quận Vương, Thọ Xuân Vương, Hoằng Hóa Quận Vương, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đăng Giai.
(kỳ sau:Thăm Phủ Tùng Thiện Vương)
Trần Công Nhung

(1) Phủ Tuy Ly Vương trang 59 QHQOK tập 16

Tin sách: Như đã thông báo sách Chuyện Riêng tập Vào Đời đã có nhưng không may phần lớn sách bị thất lạc, tác giả xin cáo lỗi cùng độc giả. Trong thời gian ngắn khi mọi việc ổn thỏa, sẽ xin thông báo để độc giả rõ. Liên lạc email: trannhungcong46@gmail.com, P.O. Box 163 Garden Grove, CA 92842

 

Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

advertisements
advertisements