Sunday, 07/01/2018 - 11:42:37

Người bạn ở vùng biên ải

Bài HÒA GIA

Cách đây mấy tuần tôi nhận được thư của anh bạn học từ thời Sư Phạm Huế. Anh Nguyễn Hữu, 47 tuổi, giờ làm việc tận vùng biên ải xa xôi, đường lên đó đèo dốc cheo leo, rừng núi chập chùng, thăm thẳm dốc cổng trời. Chúng tôi vẫn giữ liên lạc với nhau nhưng năm, bảy năm mới gặp một lần và vài ba năm tôi mới gửi anh một bức thư qua đường bưu điện.

Khoảng cách chưa đến 100 km nhưng có khi cả tháng trời Hữu mới nhận được thư. Mọi mơ ước của Hữu chỉ giới hạn điện, nước, tivi, đường sá. Internet là thứ anh chỉ nghe nói, chưa học qua. Hữu từng cho tôi biết từ chỗ anh sống sang xứ Lào gần 100 km, mất hai ngày đi bộ. Theo hướng xã La Dêê lân cận, từ đường Quốc lộ 14 thì nhanh hơn, và có thể đi xe máy đến chỗ anh. Nhưng anh khuyên tôi nên đi ô tô. Anh sợ tôi không vượt nổi một con đèo miền sơn cước.


Nguyễn Hữu (Hòa Gia)

Hữu về dạy học ở một Trường Phổ Thông Dân Tộc bán trú từ thời huyện Giằng chưa đổi tên thành Nam Giang. Hữu chọn núi rừng khi anh đã tinh thâm Phật học. Anh sinh ra ở Lào dù cha mẹ là người gốc Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Anh kể thuở nhỏ anh từng học trong chùa của các sư người Lào. Mới biết đọc biết viết là anh được dạy đọc kinh Phật. Những bài học nhỏ được trích chọn trong các kinh Phật giáo Nguyên Thủy. Ở xứ Lào, Phật giáo là quốc giáo. Khi ra Huế học Đại Học Sư Phạm tuổi anh đã hơn 20. Gia đình anh chuyển về Việt Nam, sống gần bản người Cơ Tu.


Cô Nhí, một người mẹ thuộc sắc tộc Cơ Tu, đã có con dù chỉ mới 16 tuổi. Dân miền sơn cước tỉnh Quảng Nam tới tuổi 40 thì đã hóa lão. (Hòa Gia)

Hữu học sư phạm nhưng anh đọc kinh Phật đến chúng tôi phải nể. Ngày xưa kinh sách cũ được bày bán khắp các nhà sách và vỉa hè đường Lê Lợi ở Huế. Là sinh viên miền núi Hữu có học bổng cao hơn chúng tôi. Anh dành tiền để mua kinh sách. Anh sống mạnh mẽ và không trai gái, rượu, chè. Hữu lấy bằng Đại Học khi tôi ra Hà Nội học thêm trường Viết Văn.

Nhiều năm tôi không gặp anh. Một lần qua đò Phú Thuận hướng Đại Lộc tôi và anh đi chung chuyến. Anh rất ngạc nhiên khi biết tôi từng sống ở Đại Lộc và đang về Duy Xuyên. Anh cười nói tưởng tôi đã ra nước ngoài, lấy chồng ngoại.


Nhà dành cho giáo viên tuy có điện nhưng không có điện thoại di động hay cố định, cũng không internet, thư gởi cả tháng mới tới xã La Êê này. (Hòa Gia)

Đi học mà người quê làm như đi sứ! Sinh viên xa nhà thiếu đói, ra trường thất nghiệp nhưng ai cũng tưởng học thì đỗ đạt làm quan, áo gấm về làng. Gia đình Hữu bất bình khi thấy anh chỉ là một anh giáo quèn ở Hiên. Vài năm sau anh bị chuyển sang Giằng. Bây giờ anh có một nhà sàn giữa rừng, xung quanh là rẫy bắp xen khoai, sắn. Hơn nữa diện tích trồng cây lấy gỗ rộng vài hecta.

 Tuần trước chúng tôi lên Nam Giang thăm Hữu. Tôi vẫn đang tìm một phương thuốc chữa bệnh nhưng không biết phải là thuốc gì. Hy vọng Hữu sống ở rừng sẽ hiểu biết về thuốc.

Hữu cười bảo, “Con em đồng bào dân tộc ốm đau cúng không khỏi là đưa tới đồn biên phòng, xin thuốc tây của mấy anh lính, hoặc xuống trạm xá, dù đi xa có khi đến hơn 60 km đường núi, có người bị chết dọc đường. Thứ thuốc mà em tìm bây giờ nói ra người ta tưởng đó là thuốc thần, thuốc tiên.”

Lần đầu tiên tôi nghe đến cái tên La Êê, thấy không một thứ gì xa lạ hơn nó. Một người bạn khác làm y tá ở Nam Giang nói khôi hài rằng, “Chị mới biết La Êê trên bản đồ thôi, trên bản đồ Quảng Nam La Êê là dãy núi lớn, rẽ nhánh về phía Tây Trường Sơn, không có đường lớn để đến, gần đây cả nước mới nghe nhắc đến La Êê bởi sự cố Thủy điện sông Bung 2.”

Rồi chị kể rằng: Gần 20 năm trước Hữu chuyển lên La Êê, sống cô đơn giữa thung lũng, quẩn quanh, thiếu đói. Điều gì đã đưa Hữu đến đó, chắc anh muốn ở đó tiện đường sang Lào thăm thầy cũ, bạn xưa, hoặc anh muốn làm nhà khai hóa. Anh thấy một vùng đất còn hoang sơ, mông muội, lạc hậu, đói nghèo nhưng có thể là nơi ẩn tu. Có điều Hữu giỏi chịu đựng đời sống nóng lạnh bất thường. Thử tưởng tượng một vùng núi độ cao 1,600 mét so với mực nước biển.

Bản của người Cơ Tu nằm côi cút giữa thung lũng, những mái nhà lợp lá xen lợp tôn. Sớm chiều mây quấn quýt là đà trên ngọn cây, trên nóc nhà, quanh thân người. Dân bản địa sống đời du canh, du cư, săn bắt, hái lượm, đốt rừng, làm rẫy, trỉa hạt, tự cấp, tự túc. Không thiếu những ông già, bà già còn giữ tục lệ cà răng, căng tai, con gái mới mười tuổi đã bắt lấy chồng, tảo hôn và thất học, mù chữ. Nơi ấy đêm xuống phải thắp đèn dầu hoặc đốt đuốc, điện chưa kéo đến, không ai dùng điện thoại di động lẫn cố định vì vùng này không có sóng. Đường đi lối lại vô cùng gian nan, đường nào cũng nằm hút trong hẻm núi, nhiều sơn nữ măng tơ, mới 16 tuổi đã có đến hai đứa con, sống dấu mình dưới bóng lá, rừng cây, 40 tuổi hóa lão.

Khi tôi đến nhà Hữu thì cả xã La Êê đã có điện. Nhưng nhà nước vẫn xây dựng thêm nhiều nhà máy thủy điện khác. Điện ở La Êê mới được dùng để thắp sáng, điện sản xuất chưa có. Trong đợt mưa lũ vừa qua, lở đất, lở núi và lũ quét đã khiến hàng chục người dân tộc Cơtu chết trôi hoặc mất tích. Xã La Êê xa xôi, đói nghèo, lạc hậu vừa trải qua những ngày kinh hoàng.

Hữu không dấu được nỗi ám ảnh lo sợ trong mắt. Khi cơn lũ dữ tràn qua, vài ngôi làng bị xóa sổ. Hữu cho biết sắp tới chính quyền xã sẽ di dời các hộ dân ven sông Bung đến những ngọn đồi cao hơn để tránh nguy hiểm, và vùng anh sống, vốn xa khu dân cư và làng bản, sẽ được chọn là nơi định canh định cư mới.
Tôi không biết nhiều về con sông Bung, vốn phát nguyên từ xứ Lào, như một con rắn khổng lồ, lách mình qua dãy Trường Sơn hùng vĩ, trườn vào địa phận Quảng Nam. Tại Quảng Nam, sông Bung xuyên qua ba xã thuộc huyện Tây Giang, rồi cuộn mình, quăng quật qua các ghềnh, thác, núi, rừng Nam Giang xuôi xuống Đại Lộc hòa dòng sông Vu Gia.

Cũng nằm trên địa bàn xã La Êê nhưng nơi Hữu sống là một khu rừng khá hiền hòa. Thỉnh thoảng anh cũng tiếp xúc với bộ đội biên phòng, cán bộ miền núi, đám kiểm lâm và cả lâm tặc, vàng tặc người Kinh. Hữu vẫn dạy học và hưởng biên chế giáo viên miền núi. Anh nói: sống với thôn bản La Êê, đi lại vất vả thôi, công việc thì nhẹ nhàng.

Tôi tự hỏi làm sao để có điện cho vùng biên ải, thắp sáng chốn tận cùng biên giới dọc dãy Trường Sơn này? Sông Bung hoang sơ, hiền hòa, xinh đẹp, bị chia khúc làm thủy điện: gánh trên mình sáu nhà máy thủy điện và riêng khu vực Nam Giang có đến năm nhà máy thủy điện mang tên Sông Bung 2, sông Bung 4, 4a, 5,6…

Để có điện người ta đã giết con sông linh thiêng, tri kỷ của người Cơ Tu. Điều đáng sợ nhất là một tên nhà báo bạn tôi đã đùa rằng, “Phải sản xuất áo phao chịu lực cho đồng bào miền núi trên dãy Trường Sơn phòng khi có sự cố thủy điện và động đất.”

Vài giáo viên khi về dưới xuôi đã tìm gom quần áo cũ bất luận của trẻ em hay người lớn đem lên cho dân thôn bản.

Chưa có đoàn từ thiện nào đến tận chốn thâm sơn cùng cốc này. Hữu thở dài, anh rất muốn có điện, rất muốn thông đường, thông tuyến, ít nhất đường chính được trải nhựa. Nhưng anh cũng sợ sự cố thủy điện lắm: nguồn nước bị đầu độc, con sông bị chặt khúc, nhiều nơi trơ đáy, biến đổi xấu, kéo theo những biến động, thay đổi số phận của dân bản.

Tôi ứa nước mắt khi nghe Hữu kể trẻ em La Êê phải đi bộ cả buổi mới đến trường học. Khỏe mạnh như anh mà ngày nào cũng mất cả tiếng đồng hồ từ nhà đến trường. Đường núi mùa mưa lầy lội. Đêm biên ải gió thốc, quạnh quẽ, hoang lương.


Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp