Sunday, 09/04/2017 - 10:35:31

Nghề Medical Billing và Coding (kỳ 1)

Bài BĂNG HUYỀN

Trong bài viết “Tìm Hiểu Về Cải Cách Y Tế Ở Mỹ” của tác giả Trương Đình Trung đăng trên trang web của Đại Học Chiến Tranh Chính Trị (www.tdhctct.com) vào ngày 20 tháng 9, 2009 có viết:

“Tất cả các hãng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, for-profit organization; lý do tồn tại của các hãng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải vì sức khoẻ của khách hàng. Quyền lợi kinh tế của hãng bảo hiểm và quyền lợi y tế của khách hàng luôn mâu thuẩn và tiêu trừ lẫn nhau.


Medical Billing và Coding (Hình internet)


“Một trong những thủ thuật thông thường của các hãng bảo hiểm là từ chối, hoặc trì hoãn, chi trả phí tổn dịch vụ y tế cho khách hàng (deny or delay customers claim payments). Họ mướn những chuyên viên để lo việc này (gọi là các claim adjusters), hoặc thiết lập các hệ thống computer tối tân để tự động hóa việc từ chối chi trả. Họ cũng tưởng thưởng cho những nhân viên nào thực hiện được tốt những sự từ chối hoặc trì hoãn như vậy. Theo National Association of Insurance Commissioner thì chỉ riêng trong năm 2008 có đến hơn 195,000 khiếu nại của khách hàng về việc bị các hãng bảo hiểm từ chối chi trả dịch vụ y tế. Có trường hợp khách hàng đã chết rồi mà sự khiếu nại vẫn chưa giải quyết.

“Ngoài ra còn có trường hợp hủy bỏ hồi tố hợp đồng bảo hiểm (retroactive cancellations/ after-the-fact policy cancellations) nếu hãng bảo hiểm khám phá ra là khách hàng trước đó, khi ký hợp đồng bảo hiểm, đã cố ý hay vô tình không khai một chi tiết bệnh lý nào đó trong hồ sơ cá nhân của mình. Ngay cả những người vì không biết mà không khai cũng chịu sự chế tài đó. Và sự hủy bỏ này có thể áp dụng cho cả gia đình dù chỉ một thành viên trong gia đình sai phạm. Chẳng hạn một phụ nữ ở Texas bị phát hiện có bướu trong vú. Ngay lúc đó hảng bảo hiểm điều tra và tìm ra là trước đó người phụ nữ này đã mắc chứng rỗng xương (osteoporosis) mà không khai khi lập hợp đồng bảo hiểm. Tuy rằng chẳng có mối liên hệ gì giữa hai căn bệnh, hãng bảo hiểm vẫn lấy lý do đó để huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm!”


Medical Billing và Coding (Hình internet)



Medical Billing and Coding là gì?

Nếu những chuyên viên claim adjuster của các công ty bảo hiểm luôn tìm cách từ chối trả hoặc trả thấp đi so với số tiền được yêu cầu (deny hay adjust -according to code). Vì công việc của họ và phần thưởng của họ nhiều hay ít nhận được từ công ty đều tùy theo số lượng từ chối hoặc trì hoãn trả tiền (deny and adjust insurance claim). Thì đối nghịch lại với claim adjuster, công việc của người Medical Billing and Coding là giúp cho bệnh việc hoặc các phòng mạch bác sĩ, phòng mạch nha sĩ, yêu cầu các công ty bảo hiểm thanh toán cho dịch vụ mà bệnh viện hoặc phòng mạch đã thực hiện cho bệnh nhân có bảo hiểm, đòi các hãng bảo hiểm phải trả tiền đủ, không được bớt xén hoặc từ chối trả tiền.

Lương bổng và những yêu cầu của công việc

Chị K. N (nhân vật không muốn tiết lộ tên thật) là Supervisor tại bệnh viện UCI chuyên về Medical Billing cho bệnh nhân bảo hiểm Medicare (bảo hiểm sức khoẻ của chính phủ liên bang, được trả bằng quỹ An sinh Xã hội-Social Security). Chị từng học chuyên ngành Medical Billing and Coding tại trường American Career College (ACC) tại thành phố Anaheim, cho biết, nghề Medical Billing and Coding hiện nay tại Hoa Kỳ là một nghề không khó tìm việc làm và tiền lương “thì tùy theo công ty mình làm, nếu làm cho bệnh viện thì mức lương sẽ cao hơn là làm cho văn phòng bác sĩ hoặc các tổ hợp bác sĩ, vì số lượng việc làm nhiều hơn, và công việc có thể là khó hơn.”

Còn chị Trúc Nguyễn hiện đang làm về Medical Billing and Coding cho văn phòng bác sĩ tại quận Cam, thì nói “khi làm Medical Billing and Coding tại các văn phòng bác sĩ, một người mới ra nghề được trả khoảng 13 đến 14 đồng một giờ, nếu người đó có kinh nghiệm thì được trả khoảng 21- 22 đồng một giờ. Còn nếu làm cho các công ty chuyên về Medical billing hoặc cho các bệnh viện, lương có thể được khoảng 41 ngàn một 1 năm hoặc có thể lên đến 52 ngàn một 1 năm và có đủ các quyền lợi khi là nhân viên của công ty, như bảo hiểm xã hội, ngày nghỉ bệnh, nghỉ phép, bảo hiểm sức khỏe.”

Theo chị K. N, người nào muốn học về Medical Billing and Coding thì không cần phải học toán thật cao, chỉ cần có trình độ của Toán cấp phổ thông trung học (từ lớp 9 đến lớp 12) là đủ rồi, nhưng nếu các học viên muốn có cơ hội để thăng tiến sau này khi ra làm cho các bệnh viện hay các công ty chuyên về Medical Billing thành Supervisor, Manager hay Director về Medical Billing thì học viên cũng nên học thêm toán của trình độ college để sau này có khi dùng đến. Học về Medical Billing và Coding thì cũng cần học thêm về cách sử dụng những công thức về Excel vì sẽ dùng cho rebort (viết báo cáo) rất nhiều khi làm việc. Phải biết các thuật ngữ y khoa (Medical Terminology) để khi bill đúng các code.

Giới thiệu yêu cầu của công việc Medical Billing, chị K. N nói người làm Medical Billing phải hoàn tất các bill tính phí điều trị của bệnh nhân gửi đến các công ty bảo hiểm. Do đó phải nắm vững về hồ sơ bảo hiểm y tế, phải biết tính toán, phải hiểu biết những điều khoản quy định của các công ty bảo hiểm mà mình bill, hiểu về coding để bill chính xác, biết sử dụng máy tính văn phòng, có kỹ năng giao tiếp và có khả năng thương lượng với công ty bảo hiểm những bill bị từ chối trả hoặc bị trả thấp đi. Do đó đòi hỏi tiếng Anh phải khá.

Phải biết tổ chức, sắp xếp, và cẩn thận từng chi tiết khi bill. Phải thật cẩn trọng để đừng làm sai. Vì những sai sót khi bill có thể liên quan tới credit của bệnh nhân (trường hợp bệnh nhân phải bù thêm tiền) hoặc có thể sẽ không mang lại cho công ty đủ tiền như đã hoạch sẵn.

Medical Coding

Chị K. N nói còn về Coding cũng vậy, người làm Coding cũng phải có trách nhiệm làm cho đúng với hồ sơ bệnh án mà bác sĩ ghi. Vì tất cả những tin tức về bệnh nhân sẽ được gửi đến công ty bảo hiểm để lấy tiền về cho công ty tối đa.

Nói thêm về công việc của Medical Coding, chị cho biết, “Người làm về Medical Coding phải hiểu nhiều nghĩa của những từ về Medical Terminology (thuật ngữ y khoa) để có thể dễ dàng tra vào sách coding tìm ra code sát nghĩa của bệnh án. Người Coder cũng phải hiểu rõ về những luật lệ của Center of Medicare- Medicaid Services để không vi phạm vào luật lệ đã định. Người làm Coding ở bệnh viện sẽ có những đòi hỏi về kinh nghiệm nhiều vì sẽ code cho nhiều loại bệnh án khác nhau chẳng hạn với những bệnh nhân ở bệnh viện dài hạn (impatien Service), hoặc bệnh nhân chỉ tới bệnh viện trong ngày (outpatient service) và rất nhiều bệnh nặng, nhẹ khác nhau.”

Trong bài viết “Vì sao phí tổn bệnh viện ở Mỹ quá đắt” của ký giả Kimberly Hiss đăng trên Reader's Digest tháng 9, 2012 được tác giả Nguyễn Minh Tâm lược dịch, có giải thích khá kỹ về Medical Coding:
“Bác sĩ Epperly cho biết, Cả bác sĩ lẫn bệnh nhân đều không hiểu cách tính tiền của bệnh viện. Sáng hôm nay tôi mới đặt một ống kính vào bao tử của một bệnh nhân, tôi không biết bà ấy sẽ phải trả bao nhiêu tiền. Tôi chỉ biết làm nhiệm vụ y sĩ giúp bệnh nhân. Tôi điền vào phiếu công tác, mô tả những gì tôi vừa làm. Sau đó, một chuyên viên ấn định mã số (coder) sẽ ấn định một mã số về việc làm của tôi. Mã số này sẽ diễn dịch thành số tiền bệnh nhân phải trả.

“Cô Kimberly Hiss, ký giả viết bài báo này, đi tìm người coder để hỏi thăm. Người đó là chuyên viên được tổ chức America n Academy of Professional Coder huấn luyện và cấp văn bằng hành nghề. Người coder giải thích cho chúng tôi rõ thủ tục tính tiền như sau: Văn phòng tính tiền y tế phí sẽ chạy ra ba bảng chiết tính: Một bản dành cho chi phí chẩn bệnh (mã số ICD-9), một bản dùng để mô tả việc làm của y sĩ (CPT), và một bản tính tiền sản phẩm y khoa, và tiền công đặt bộ phận đó vào trong người bệnh (HCPCS).

“Đó chính là việc làm của người chỉ định mã số. Người coder có thể là một người làm trong ban tính tiền (billing department), hay chính quản lý ban tính tiền kiêm nhiệm luôn vai trò coder. Mã số ghi trong giấy tính tiền là danh mục mô tả mọi loại dịch vụ từ bệnh lý, đến thuốc men, cái nạng để đi đứng, cho đến phương pháp trị liệu. Những mã số này hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng đến tất cả những khoản tiền sẽ tiếp diễn sau đó.

“Đây là một công tác vô cùng phức tạp. Ví dụ chỉ một mình mã số cho phần CPT, mô tả việc làm của bác sĩ đã dầy như cuốn niên giám điện thoại. Riêng phần làm MRI cũng có khoảng 60 thể loại –variations- khác nhau. Một nhân viên làm việc này phải than: Nhiều lúc tôi cũng bực mình lắm, không biết mình phải chọn code nào cho đúng. Mỗi code có thể diễn dịch thành nhiều thứ khác nhau.

“Tại nhiều nơi, nhân viên bệnh viện vẫn tiếp tục ghi chép bằng tay diễn tiến điều trị cho bệnh nhân trên giấy. Bản ghi chép được làm thành 2 bảng copy, rồi chừa khoảng trống ghi code để bác sĩ đánh dấu vào. Bác sĩ Dena Bravata, chuyên lo về ấn định mã số cho tổ chức Castlight Health, một công ty phụ trách việc tính tiền đúng cho bệnh nhân, than rằng: Nhiều khi bác sĩ, hay nhân viên phụ trách bận quá, họ đánh dấu sai. Chưa kể là các bác sĩ nổi tiếng là viết chữ tháu, khó đọc, khiến cho những code được đánh dấu mâu thuẫn nhau, chẳng ra đâu vào đâu cả.

“Một số chuyên viên làm trong bệnh viện không nắm vững nội dung của mã số, nên ghi lầm, làm cho bệnh nhân phải trả thêm rất nhiều tiền. Năm 2010, một bệnh nhân 71 tuổi ở Florida bị bệnh ung thư. Ông ta phải trả $10,000 cho tiền chích thuốc, vì hãng bảo hiểm từ chối không trả. Lý do là bà vợ ông bác sĩ, và nhân viên văn phòng ghi sai mã số. Thay vì mã số chích thuốc để trị liệu, họ ghi mã số giải phẩu để đặt máy bơm vào trong người 10 lần mỗi tháng, trong suốt một năm.”

Cũng trong bài viết này, có đưa ra những lời khuyên dành cho bệnh nhân: “Hãy nhớ kỹ một điều là khi nhận được bill tính tiền của bệnh viện đừng dại dột vứt ngay vào sọt rác, giả vờ như chưa hề đọc nó. Bà Jennifer Jaff cố vấn cho bệnh nhân về y tế phí khuyên rằng việc không đọc cho kỹ bill tính tiền của bệnh viện sẽ dễ khiến chúng ta bị chuyên viên đòi nợ, collection agent, chạy theo hành hạ suốt đời. Khi thấy giấy tính tiền của bệnh viện đắt quá, bạn có thể nhờ cậy nhiều tổ chức tư nhân và chính phủ giúp bạn. Ví dụ: The US Department of Health & Human Services, Medical Billing Advocates of America , Patient Advocate Foundation, và Advocacy for Patients with Chronic Illness. Sau đó, lập một kế hoạch trả nợ tùy theo khả năng của bạn.”

Vì theo tác giả bài viết “Người ấn định mã số có thể lầm. Một sai lầm về mã số có thể làm cho bạn trả bill rất cao. Khi bạn hoài nghi, hãy đem cái code ghi trong bill tìm hiểu xem có đúng với việc trị liệu của bác sĩ hay không.”

Tác giả bài viết còn đề nghị bệnh nhân nên theo dõi thật sát việc chữa trị của bệnh viện. Vì “Mặc dù có hệ thống hậu kiểm, cũng như nhu liệu điện toán tốt, nhưng việc tính tiền của bệnh viện vẫn có thể nhầm lẫn vì nhân viên ghi nhập hồ sơ làm lỗi. Một ví dụ thường xảy ra nhất là họ tính tiền những lần hẹn gặp bác sĩ, bị hủy bỏ giờ chót, vì bệnh nhân hay bác sĩ thay đổi buổi hẹn. Trong mười vụ bỏ hẹn gặp bác sĩ, đi chụp CT scan, hay chụp quang tuyến X, thì có đến tám vụ vẫn bị tính tiền. Bà Pa lmer giải thích rằng nhân viên ghi nhận cuộc hẹn trong hồ sơ của bệnh nhân, nhưng quên không lấy ra khi cuộc hẹn bị hủy bỏ.

“Sai lầm khác cũng thường xảy ra là vụ tính tiền hai lần. Bà June Morgan kể ra ví dụ trường hợp bệnh nhân được gắn bộ phận thông mạch máu tắc nghẽn. Bộ phận này thường có những bộ phận rời nhỏ (parts) đi kèm theo. Một chuyên viên mã số, coder, trao cho bác sĩ một bộ phận rời, song vì nói nhỏ, hay bác sĩ không nghe rõ, họ ghi nhầm mã số, tính thêm tiền vào bệnh nhân.

 “Nói chung, thân nhân người bệnh cần phải theo dõi chặt chẽ vật dụng tiếp liệu của nhà thương, cũng như việc lấy hẹn trong quá trình chữa trị để tránh trường hợp bệnh viện tính tiền nhiều lần, hay không làm mà vẫn tính tiền.”
(Còn tiếp)
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp