Thursday, 20/12/2018 - 08:47:08

Nếu Chúa không giáng sinh

Cảnh hang đá nơi Chúa đến với thế gian hơn 2000 năm trước, được phác họa dùng các vật liệu khác nhau bởi nghệ nhân Romolo Tavali dành cho Getty Images.

Bài CHU TẤT TIẾN

Hơn 20 thế kỷ đã trôi qua, nhưng các nhà Khoa Học và Thần Học cũng như Giáo Hội vẫn chưa đồng nhất về ngày sinh cũng như năm sinh của Chúa nhưng tất cả đều chấp nhận ngày 25 tháng 12 là ngày kỷ niệm Chúa Jesus sinh ra đời, vì không có chọn lựa nào khác. Và ngày 25 tháng 12 sẽ được tiếp tục kỷ niệm về sự kiện Chúa giáng sinh cho đến ngày tận thế vì toàn thể thế giới, từ Bắc Cực đến Nam Cực, từ Đông sang Tây, da mầu hay da trắng đều hân hoan đón chào ngày 25 tháng 12 và không có thế lực nhân gian nào có thể dời chuyển ngày này sang một thời gian khác được. Một vài lãnh tụ độc tài, gian ác có thể cấm người ta tổ chức lễ kỷ niệm này nhưng trong lòng mọi người đều trông chờ ngày Giáng Sinh vào cuối năm Dương lịch và hy vọng đây là dấu mốc cho một thay đổi cuộc sống, tinh thần, hay vật chất, tùy theo quan niệm của mỗi người.

Dựa vào các sự kiện ghi trong Thánh Kinh, như việc Roma buộc dân chúng tại các vùng thuộc địa trở về địa phương để làm thống kê, việc vua Herode tàn sát các con trẻ mới sinh, và so sánh với sử liệu của thế giới, các nhà Khoa Học và Thần Học đã cho rằng Chúa Jesus thật sự đã sinh ra trong khoảng thế kỷ 6-4 trước khi Dương Lịch được thiết lập. Tuy nhiên, thế giới vẫn chấp nhận năm thứ 1 Dương Lịch là A.D. có nghĩa là After Christ, còn trước đó là B.C., nghĩa là Before Christ. Như thế, nếu cộng thêm vào giả thiết Chúa Jesus đã hạ sinh trong khoảng thế kỷ 6 - 4 B.C (năm), Chúa đã xuống trần cách đây khoảng 2018 + 500 năm = 2518 năm nay.

Lúc đó, ở châu Âu, nền văn minh Hy Lạp đã được thể hiện tại các nước Athens, Sparta, Thebes, Corinth, và Syracuse. Athens là nước văn minh nhất, dân chủ nhất đã tổ chức được các cuộc bầu cử công khai. Athens cũng là nơi sản sinh ra các hiền triết thế giới: Socrates và Plato, người đã lập nên Platonic Academy để cung hiến những triết gia cho nhân loại. Sau khi nền văn minh Hy Lạp xuống dốc vì các trận chiến tranh giành đất, thì văn minh La Mã bùng phát. Đế quốc La Mã tung hoành gần hết châu Âu, Trung Á và Bắc Phi, gồm cả Ai Cập, chiếm một diện tích gần 6 triệu cây số vuông.

Nước Pháp, lúc đó mới chỉ là một sắc dân gọi là The Gauls, chưa thể hiện được một sắc thái đặc biệt nào của một quốc gia tuy có chế độ cai trị sắt thép với dân chúng không có vũ khí. Nước Anh cũng thế, hình thức sinh hoạt vẫn chỉ tương đương với những bộ lạc lớn. Vẫn còn rừng rậm bao la, dân cư thưa thớt, bùn lầy nước đọng tuy có vài lâu đài đơn sơ của lãnh chúa.

Như vậy, nếu Chúa không giáng sinh, sinh hoạt tín ngưỡng ở nơi Chúa sinh ra và Châu Âu như thế nào?
Về sinh hoạt xã hội, tại Châu Âu, thì xã hội chia ra hai thành phần rõ rệt: giới cai trị và giới bị cai trị. Trừ Athens là nơi có tinh thần dân chủ, còn tất cả các vua chúa, quan quyền đều có quyền lực sinh sát tối thượng, người dân chỉ là những phương tiện, dụng cụ phục vụ cho giới cai trị sống huy hoàng. Về phương diện tín ngưỡng thì đa số dân chúng đều sống hoang mang, thờ lạy những thần linh vô hình, được tạo ra bởi hoang tưởng của các người có quyền thế.

Tại Hy Lạp, nơi nhiều đền thờ nhất có thần dâm dục (Eros), thần ban đêm (Nix), thần chiến tranh (Ares), thần biển (Poseidon), thần hỗn mang (Chaos), thần nước (Hydros), thần sinh sản (Phanes), thần bùn (Pilos), vua của các thần (Zeus), thần tình yêu (Aphrodite), thần Khốn Khổ (Achlys), thần rừng (Axys)...).... Điều lạ lùng là các thần linh này lại có thể xuống bất cứ chỗ nào trên trái đất, làm tình với thiếu nữ, với vợ vua để sinh ra một người vừa là thần vừa là người. Tại La Mã, ở các góc đường có thể có một tượng thần nào đó như Thần Thương Mại, Thần Gió, Thần May Mắn... do một ông giầu có nào dựng lên để cho người ta cúng vái.

Tại Do Thái là nơi Chúa chọn để sinh ra, thì từ ngàn năm trước đã có Cựu Ước, trong đó ghi lại việc Thiên Chúa (Gia Vê) sáng tạo ra con người, từ đó, có các tiên tri đã liên tục phát triển đạo Chúa qua nhiều hình thức, đặc biệt là đưa người Do Thái thoát khỏi bị bắt làm nô lệ cho Ai Cập. Tuy nhiên, thoát nạn này lại gặp nạn khác: Đế Quốc La Mã đô hộ đất Do Thái và buộc người dân phải đóng thuế cho Cesar qua sự cai trị từ một Tổng Trấn. Vì không có chính quyền của dân, nên các Tư Tế, những người lãnh đạo tinh thần của Dân Do Thái, là những người thực tế điều hành xã hội. Các Hội Đường, nơi giảng Kinh Thánh Cựu Ước cho dân, cũng là một tòa án xét xử tất cả mọi sinh hoạt của dân chúng. Lời phán quyết của các vị Tư Tế là bất khả tư nghị, không một ai có quyền chối cãi.

Có thể nói, vào thời đại này, đạo Chúa nguyên thủy đã phát triển mạnh mẽ trên đất Israel. Lời các Tiên Tri được đọc trong các Hội Đường hàng tuần. Tuy nhiên, theo tâm lý chung, một khi quyền lực được trao vào tay một cách tuyệt đối, thì con người sinh ra kiêu ngạo, và xa rời đường chính. Các vị Tư Tế tôn thờ Thiên Chúa, được gọi là nhóm Pharisieu, đã dần dần xa rời lời dậy của Thiên Chúa mà sống vị kỷ, hưởng lạc phù hoa, giả hình, và tạo nên một tôn giáo cực đoan, mê muội.

Sự việc Chúa Jesus giáng sinh đã đảo lộn suy nghĩ và sinh hoạt của người Do Thái, nơi dân chúng đang mong chờ một Lãnh tụ trần thế cứu họ khỏi sự áp bức của Đế Quốc La Mã. Khi Chúa bắt đầu đi giảng đạo và làm phép lạ cứu người thì dân Do Thái cứ tưởng Ngài là một vị Vua trần thế, một lãnh tụ cách mạng, cho nên đa số họ đã tôn sùng Ngài như một nhà cách mạng, vì thế khi Ngài vào thành Jerusalem lần chót để bị đóng đinh, kết thúc sứ mạng của một Con Người trên trần thế, thì dân Do Thái tung hô Ngài như một ông vua bằng những tầu lá dừa, có người còn trải áo ra cho lừa của Ngài đi qua. Rồi đến khi nhận thấy Ngài bị kết án như một người phạm luật thì cũng những con người đã từng tung hô Ngài lại gào lên: “Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó đi! Tha Baraba! Tha Baraba!” và Chúa Jesus đã chết trong tủi nhục cùng với hai tên trộm cắp.

Chỉ đến khi Chúa tắt hơi, mặt đất rung động, mây đen vần vũ kéo đến và tấm màn che cung thánh của đền thờ rách làm đôi, thì lúc đó, dân chúng mới kinh hãi và nhận ra rằng chính Ông Jesus là Thiên Chúa thật. Tuy nhiên, tâm lý sợ hãi vẫn còn ngự trị trên tâm khảm mọi người, nên ngay cả các Tông Đồ cũng phải tự nhốt trong nhà, cho đến ngày Chúa sống lại! Rồi đến ngày Chúa gặp mặt tất cả các Tông Đồ với sự thánh hóa của Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ mới tỏa đi khắp nơi mà rao giảng đạo Chúa. Nhưng cũng mãi đến ngày Thánh Phaolô, một người từng truy sát các người theo Chúa, trở lại đường chính và biến thành một Tông Đồ tích cực, thì đạo Chúa mới thật sự phát triển, không những tại nơi Chúa sinh ra và chịu đóng đinh mà nhiều nước chung quanh rồi lan qua La Mã, và vài nơi ở Âu Châu.

Điều quan trọng là sự việc Chúa sinh ra đã làm thay đổi cả bộ mặt xã hội và đem lại cho con người LẼ SỐNG mới. Nếu Chúa không xuống thế, thì đa phần nhân loại vẫn sống trong u mê với những tà thần tưởng tượng, Thần gió, thần mưa, thần sấm, thần chớp, thần dâm dục... Người ta sẽ sinh hoạt ích kỷ như những sinh vật cần chiến đấu lẫn nhau để sống còn. Văn minh, khoa học sẽ chỉ quẩn quanh những vấn đề tế tự, mà không phát triển được những tinh hoa của các môn khoa học như toán học, vật lý, hóa học, nhân loại học, mỹ thuật cũng như y học vì hầu như tất cả mọi phát minh khoa học đều do các Khoa Học Gia tin vào Thiên Chúa. Nếu Chúa không giáng sinh, sẽ không có Galilea (thiên văn và vật lý), Newton (Thiên văn, toán học), Kepler (thiên văn), Marie Curie (X-quang), Pasteur (khoa học thực nghiệm, y khoa), Bacon (khoa học thực nghiệm), Meitner (nguyên tử), Hulme (thiên văn), Planck (khoa học lượng tử), Ampere (điện), Edison (sáng chế), Pascal (Toán học), và hàng ngàn nhà khoa học khác, đã làm việc trong tinh thần tôn vinh Chúa qua việc phục vụ tri thức và phát triển hạnh phúc của nhân loại.

Chúa xuống thế để đem lại hy vọng cho nhân loại về một đời sau vĩnh cửu và hạnh phúc miên viễn. Chúa đến để giải thoát con người, những ai tin vào Chúa, khỏi mọi khổ đau tinh thần cũng như thân xác, và đặt đường đi cho những người khác biết tìm đến Chân Lý và Sự Sống. Dĩ nhiên, để được hạnh phúc thật, con người phải hy sinh nhiều nhu cầu vật chất không cần thiết, phải kềm hãm dục vọng và trên hết, phải biết Yêu Người như Yêu Chính Mình, vì Chúa chỉ tóm lại tất cả những điều răn trong hai điều đơn giản: Kính Chúa và Yêu Người.

Có Kính Chúa thì có thảo hiếu cha mẹ. Có Yêu Người thật sự thì không làm chứng dối, không làm tổn thương ai, không tranh dành, ghen ghét, không tham muốn của người, không ăn trộm của người, và không thèm muốn của người. Được như thế thì xã hội an bình, con người sống an hòa trong một niềm tin vào đời sau, không còn đau đớn thể xác, không bận rộn lo toan kiếm tiền, vật lộn mưu sinh mà chỉ thấy trùng trùng, chứa chan hạnh phúc bên Đấng Sáng Tạo Vũ Trụ.
(Mùa Giáng Sinh 2018)

Từ khóa tìm kiếm:
Nếu Chúa không giáng sinh
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp