Sunday, 15/09/2019 - 11:08:27

Lẻ loi nón ngựa thành Đồ Bàn




Một trong những di chỉ Chăm của thành Đồ Bàn nằm lọt thỏm giữa khu dân cư. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

'Nghề làm nón ngựa là một lời nguyền, dòng họ nào đã thề trung thành với hoàng đế và được hoàng đế ban cho chiếu chỉ, giống như giấy phép hành nghề bây giờ thì mới được sản xuất cái nón này.'


Bài NGUYÊN QUANG

Làng nón ngựa Phú Gia, Phù Cát, Bình Định cách thành Đồ Bàn chừng 7 km đường chim bay. Nói tới nón ngựa mà không nhắc tới thành Đồ Bàn thì xem như chưa nói đủ cũng như nói về thành Đồ Bàn mà không nhắc tới nón ngựa thì e rằng quá thiếu sót. Giữa nón ngựa và thành Đồ Bàn có mối tương giao lịch sử, và cả mối cộng hưởng tâm linh của ngàn năm máu lệ xứ này. Mối tương giao máu lệ này phủ bụi thời gian nhưng đâu đó, giữa ngù chóp nón đồng cao vút, giữa những giọt mồ hôi cần lao và cả những đường chỉ đỏ màu huyết dụ từ bàn tay chai sần của người cần lao lại nhắc nhớ về một thuở…

Chóp nón ngựa

Nón ngựa, có ba đặc tính chủ đạo nhưng dường như ít ai nhắc tới, đó là ngù chóp nón phải bằng đồng nâu cánh gián, gam màu chỉ thêu chủ đạo là màu đỏ và người làm nón ngựa không thể bỏ nghề, điều đó như một lời nguyền. Và cũng xin nói thêm, nghề nón ngựa ở làng Phú Gia gắn liền với thành Đồ Bàn ở An Nhơn kể từ thời nhà Tây Sơn biến Vijaya (Đồ Bàn) thành Thành Hoàng Đế của Nam Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Nhà Tây Sơn xuất thân là một dòng võ, Nguyễn Lữ sáng tác ra bài quyền Kim Kê Độc Lập, Nguyễn Nhạc sáng tác ra bài trường roi Song Nhị, Nguyễn Huệ sáng tác ra bài Lão Hổ Thượng Sơn. Cả ba bài quyền này đều có những phân thế hiểm hóc, có thể đoạt mạng đối thủ trong tích tắc bằng những cú ra đòn tưởng như đang chơi đùa.
 


Tháp Cánh Tiên trên ngọn đồi gần thành Hoàng Đế (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Và, cái ngù đồng trên nón ngựa cùng với hệ thống các vòng tre, các thanh đồng nằm dọc (bây giờ các nghệ nhân đã bỏ, tạo biến thể thanh dọc bằng tre, lá) chính là một loại khiên che đầu trong chiến trận dựa trên căn cốt của thế võ Đồng Tử Bái Quan Âm, nghĩa là ngù đồng đóng vai trò tay chắp hoa sen, khi đao của đối phương chém giữa đầu, ngù đồng nhọn trên đỉnh sẽ giúp đao trượt chéo và trôi xuôi theo thân nón, trôi hẳn ra khỏi vai. Vì tính năng này mà đường kính của nón ngựa rất rộng, khi đội, vành nón che cả vai. Dây buộc của nón cũng rất chặt, khi đội vào, bên trong nón còn một mũ chụp ôm lấy da đầu giống như mũ chụp của nón sắt chống đạn nhà binh thời hiện đại.
 

Phiến đá trắng ghi dấu lịch sử đầy máu của thành Đồ Bàn. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Nghệ nhân Đỗ Văn Lan, người có thâm niên 55 năm làm nón ngựa, cũng là một võ sư ẩn danh, nói về nón ngựa: “Tôi làm nón ngựa gia truyền, từ đời cụ tổ của tôi đến nay đã ngót nghét hơn trăm rưỡi năm.”
“Bác có biết chiếc nón ngựa đầu tiên do ai thiết kế và nó ra đời như thế nào không?”
“Thú thực là tôi hoàn toàn mù mờ về khoảng này, vì tôi chỉ nhớ là mình được truyền nghề bởi cha mình, cha tôi nói rằng nghề làm nón ngựa là một lời nguyền, dòng họ nào đã thề trung thành với hoàng đế và được hoàng đế ban cho chiếu chỉ, giống như giấy phép hành nghề bây giờ thì mới được sản xuất cái nón này.”
“Bác còn lưu giữ những gì của thời cụ tổ không?”
“Tôi còn giữ lại ba cái ngù đồng từ thời cụ tổ, cách đây gần hai trăm năm. Và trong quá trình đi sưu tầm, tôi mua được mấy ngù đồng nữa ở ngoài Bắc gửi vào bán, thành thử hiện này tôi có hơn 10 ngù, trong đó gồm cả ba ngù gia bảo. Và các ngù này đều có niên đại ngang nhau.”
“Tên nón ngựa có ý nghĩa gì và nó sản xuất cho mục đích gì bác biết không?”
“Cái này thì tôi rất rành, hầu hết nón ngựa dành cho các quan võ, triều Tây Sơn chuộng quan võ hơn quan văn và các quan võ thường cưỡi ngựa, đội loại nón này. Nón ngựa bản gốc có mấy cái nẹp bằng thanh đồng dọc theo thân nón nhưng bây giờ tôi thấy nặng nề quá nên bỏ bớt mấy chi tiết này. Cậu thấy đó, cái ngù nó có hình ngọn tháp Chăm, thân nón thì giống như mọi thân nón của người Việt. Nón thì chắc chắn dành cho quan võ đội chứ quan văn không tài nào đội nổi cái nón này đâu, nón hiện tại đã nặng chừng một ký đến một ký rưỡi. Nón ngày xưa có mấy cái nẹp đồng nữa chắc phải nặng vài ký. Người bình thường đội vào là hỏng xương cổ ngay, chỉ có dân nhà võ mới có cơ xương cứng cáp mà đội thôi. Mà tôi cũng không nghĩ là đội cho đẹp hay che nắng che mưa.”
 

Thành ngoài bằng đá ong của thành Đồ Bàn (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Lăng mộ của Võ Tánh (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Điện thờ trung tâm của thành Đồ Bàn (Nguyên Quang/Viễn Đông)




“Vậy theo bác thì đội nón ngựa cho mục đích gì khác?”
“Nếu đội che nắng che mưa thì chẳng ai đi đội cái nón quá nặng nề như vậy, chỉ cần nón lá là đủ. Hơn nữa các làng nón lá thời đó ở gần kinh thành. Tự dưng có cái làng nón ngựa khuất nẻo, xa kinh thành và có vẻ như bí mật. Thời xưa, muốn đến làng nón thì đâu có quốc lộ như bây giờ, phải đi men theo chân tháp Cánh Tiên, phải đi qua các rừng cây, ao đầm rồi mới tới làng nón. Nghĩa là làng nón nằm biệt lập ít ai biết ngoài các quan võ và người có chức sắc trong thành. Nón cũng chỉ cung cấp cho thành Hoàng Đế chứ thời đó người dân lấy đâu ra tiền để mua một cái nón ngựa có giá bằng cả một mùa lúa! Hơn nữa là dân bị cấm đội cái nón này, chỉ có vua quan mới được đội thôi!
 

Hồ bán nguyệt bên trong thành Đồ Bàn được xây dựng từ thời nhà Tây Sơn đang khai quật. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Tôi nghĩ, cái nón ngựa phải là nón chiến trận, dành cho võ tướng bởi nó có nhiều tính năng giống hệt như cái nón sắt bây giờ, đương nhiên là tính thẩm mỹ của nón ngựa theo mô tuýp cổ cho nên rườm rà, màu mè và nhiều chi tiết hơn, tính biểu trưng cũng cao hơn, hầu hết dùng tông màu đỏ nhằm ám gợi dòng máu Việt Nam, máu người lính nơi sa trường, hay nôm na là quyết tử cho tổ quốc quyết sinh… Đại khái vậy đó!”
“Vậy theo bác, đâu là mối tương giao giữa nón ngựa Bình Định và thành Đồ Bàn, còn gọi là thành Hoàng Đế?”
“Cái này anh nên hỏi người giữ thành Đồ Bàn, ông Năm ấy, ông ấy có thâm niên giữ thành hơn nửa thế kỉ, từ lúc chưa ai phát đồng lương nào cho đến khi về hưu.”

Dấu xưa Hoàng Đế

Tạm biệt ông Lan, và đương nhiên không quên biếu ông một chút tiền cà phê để đi tiếp, bởi nguyên một buổi chiều trò chuyện làm ông mất buổi làm việc mà theo ông thì mất đứt 50 ngàn đồng vì thu nhập một ngày làm việc của người làm nón ngựa là 100 ngàn đồng, tương đương 4 USD. Nhận vài trăm ngàn đồng gọi là cà phê của chúng tôi, ông mừng đến run tay, điều này làm chúng tôi rưng rưng khó tả bởi với một nghệ nhân cũng nổi tiếng khắp thế giới với nón ngựa như ông mà đời sống mọi thứ vẫn cứ nhọc nhằng, khó nói…
 

Bên trong nón ngựa Bình Định hiện nay (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Có thể nói đường đi từ làng nón Phú Gia sang thành Đồ Bàn, nếu đừng đi theo quốc lộ mà đi theo tuyến cổ thì đây là con đường đẹp, thơ mộng và bí ẩn vô cùng. Trên đường đi, có thể ghé qua chùa Thập Tháp, đây là ngôi chùa cổ xây dựng năm 1665 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, dưới triều Lê Huyền Tông, do thiền sư Nguyên Thiều khai sáng nhưng lại sinh hoạt thiên về nghi thức Tịnh độ Tông.
Trong khuôn viên sân chùa còn lưu giữ tảng đá ghi dấu lịch sử đầy máu thời tướng Võ Tánh và 10 cổ tháp của các thiền sư trụ trì, ngoài ra còn có một khu vườn tháp của các sư nằm vắt trên ngọn đồi có nhiều cây quí như sưa đỏ, hoàng đàn tuyết liên, đàn hương… Điểm đặc biệt là bên cạnh cánh rừng là ruộng lúa rộng bát ngát và có một hồ sen nước trong xanh. Có thể nói trên vùng đất khô cằn, vốn cho cảm giác dữ dội, có một chút gì đó điêu tàn một thuở của Chăm Pa lại có thể gặp một ngôi chùa hiền hòa, yên tĩnh đến tịch lặng như vậy cũng lạ. Chùa như một đối trọng với thành Hoàng Đế cách đó chừng 3 km, bên kia đồi Tháp Cánh Tiên.
 
 
Nghệ nhân chằm nón ngựa Phú Gia (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Thành Đồ Bàn, Vijaya hay thành Hoàng Đế có thể được xem là phế tích tàn tạ nhất ở Việt Nam hiện nay, đây cũng là khu di tích mang ba nền kiến trúc gồm kiến trúc Chăm Pa, kiến trúc nhà Tây Sơn và một ít kiến trúc Pháp chen lẫn. Kiến trúc Chăm còn sót lại với tháp Cánh Tiên, cặp voi nơi ngã ba Lò Rèn, cặp sư tử đá trước cổng thành và một ít gạch, đá Chăm. Kiến trúc nhà Tây Sơn hiện ra rõ nét hơn với cổng thành, tòa thành, hồ bán nguyệt hai bên cung điện, hào nước quanh thành… Riêng kiến trúc Pháp lại hiện rõ nét trong khu lăng mộ Võ Tánh, nguyên thủy là ngôi mộ trệt với một tấm bia đặt trên vị trí nấm mồ, sau này dân làng xây thêm nấm mồ tròn kiểu Chăm úp lên vị trí tấm bia và đưa tấm bia ra phía trước lăng mộ. Ngay cả cổng thành cũng có dấu ấn kiến trúc mái vòm kết hợp với kiến trúc tam quan Á Đông kiểu hoàng thành Huế, nhìn khá lạ mắt. Và, dường như đã được công nhận di tích quốc gia từ lâu, đã đuộc trùng tu nhiều lần, nhưng cảm giác điêu tàn của Đồ Bàn vẫn cứ như cũ.
Cảm giác điêu tàn đầu tiên là những khu vườn nhà dân sống chung quanh phế tích. Đất đai tăng giá nhưng người dân muốn bán đất cũng không được vì đất thuộc diện đền bù giải tỏa, nhiều người sống trong cảm giác bất an, thấp thỏm không biết số phận sẽ về đâu. Nếu như đền bù, giải tỏa xong rồi lại được mua lô ưu tiên với giá cao, đủ xây nhà, không có vườn tược, rời xa nghề nông, sẽ sống ra sao?! Ai cũng chung một mối lo. Bên cạnh đó, những làng nghề trồng mai vừa mới nhen nhóm đã chuẩn bị di dời, nỗi lo cũng không nhỏ.
Nhưng, có một câu chuyện khác, liên quan đến nón ngựa cũng như số phận người dân nơi đây, câu chuyện do ông Năm, người giữ thành miễn phí hơn nửa thế kỉ, chia sẻ: “Tôi làm bảo vệ ở đây ngót nghét năm chục năm, hồi đó vì nghĩa tử nghĩa tận mình làm thôi, chẳng nghĩ tới lợi lộc.”
“Làm bảo vệ mà nghĩ tới nghĩa tử nghĩa tận, rồi không nghĩ tới lợi lộc nghĩa là sao cụ? Cháu vẫn chưa rõ lắm!”
“Hồi xưa ở đây chết nhiều lắm, thời nhà Lê vào đánh cũng chết cả mấy chục ngàn người, thời nhà Tây Sơn cũng chết người vô tội vạ, đến thời Pháp cũng chết, đất quanh đây, một mét vuông có một mạng người. Đến những năm sau 1975, việc cấm đoán nhang khói dữ dội, tôi hay gặp những đoàn người bên kia đi lang thang kiếm ăn trong thành, cứ chừng canh hai, canh ba (từ 0h đêm đến 3h sáng) là nghe la khóc, than thở… Ban đầu tôi không tin, nhưng dần dần, quan sát mãi tôi cũng phải tin, rồi cúng kính. Chẳng hay mình có cái duyên người cõi âm họ cho thấy thì mình phải cúng kính nhưng đây là chuyện tâm linh chứ chẳng mê tín dị đoan chi!”
“Lễ vật cúng hồi đó là gì và hồi đó cụ lấy đâu ra kinh phí để cúng?”
“Nói thật với cậu là hồi đó nghèo lắm, mình nấu nồi cháo, mang ba cây nhang ra thắp vái ngày Rằm, Mồng Một, dần dần nhẹ dần, chứ cũng chẳng đốt vàng mã chi như bây giờ.”
“À cụ, cháu có nghe chuyện người cõi âm xài vàng mã, trả tiền taxi bằng vàng mã, theo cụ việc đốt vàng mã nhiều như bây giờ đúng hay sai?”
 

Cổng chính thành Đồ Bàn với kiến trúc pha trộn giữa kiến trúc hoàng thành Huế với kiến trúc Chăm. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Nói đúng sai thì khó nói quá. Tôi chưa bao giờ nghe chuyện người cõi âm trao đổi mua bán với nhau bằng vàng mã. Vì nếu có chợ, có thị trường ở cõi âm thì việc cung cấp tiền mà không cung cấp những thứ khác phỏng ích gì! Hầu như chuyện ma dùng tiền giấy là để trả cho người. Hầu hết các vụ gặp ma trả tiền âm phủ đều là người. Hư thật chưa rõ, nhưng nếu có thì con người nghĩ ra thứ đó thì họ phải trả ngược lại cho con người. Vậy thôi!”
“Cụ về hưu bao nhiêu năm rồi thưa cụ?”
“Tôi mới về hưu đây thôi. Thực ra cũng chả gọi là hưu gì, người ta thay thế, cho người khác làm. Thời mình làm thì tự nguyện, mình tin việc mình làm là tử tế, ông bà cho có sức khỏe, may mắn làm ăn, không có lương nhưng lại được cái nuôi heo, nuôi gà, nuôi ngựa, làm chi cũng trúng nên hằng tháng có tiền mà nhang khói, cúng kính chứ chẳng nhận đồng lương của ai. Sau này khi có dự án du lịch, người ta cơ cấu, biên chế cho người bảo vệ thì phải đưa dân cán bộ về hưu vào đây để làm bảo vệ, để có lương trọn đời, chuyện này dễ hiểu.”
“Cụ có nghe ông bà xưa kể gì về thành Hoàng Đế và nón ngựa không? Kể cho cháu nghe với!”
“À, nón ngựa thì gắn với thành Hoàng Đế, thời có tên Vijaya và Đồ Bàn thì chưa có nón ngựa. Nón ngựa là một loại nón chiến đấu, nó gắn với các võ sĩ, chiến binh và đặc biệt nó gắn với các võ tướng. Những võ tướng như Võ Tánh hay Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Bùi Thị Xuân… đều đội nón ngựa. Sau này tôi cũng thấy có nhiều phim phóng sự nói về nón ngựa nhưng chẳng ai nhắc tới chi tiết này, chỉ nói nón ngựa là đội kết hợp với ngồi trên ngựa, là quan lại mới được đội, chỉ vậy thôi!”
Chuyện lai lịch chiếc nón ngựa vẫn còn dang dở, chuyện ai là người làm chiếc nón ngựa đầu tiên vẫn còn là điểm mờ. Thành Đồ Bàn xưa vẫn còn là một vùng hoang vu và điêu tàn, những chiếc nón ngựa vẫn chu du thiên hạ như một lời nhắc nhớ về một triều đại chóng vánh trong lịch sử. Và đâu đó, thêm một câu chuyện, thêm một chi tiết để hé mở thêm trang vốn dĩ phủ bụi mờ…!
 

Chóp và ngù đồng nón ngựa Phú Gia, Bình Định (Nguyên Quang/Viễn Đông)
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp