Du Lịch

Đồng bằng sông Cửu Long (3)

Sunday, 15/06/2008 - 10:45:35 PM

Cần Thơ – Bến Ninh Kiều   Ở Cần Thơ một đêm một ngày, tôi không có ấn tượng gì rõ rệt. Đây là một thành phố cỡ trung với những con ...

XeVan.jpgNguyễn Linh Giang

 

Chúng tôi lên bờ, gặp lại anh tài xế, leo lên chiếc “van” để tiếp tục con đường thiên lý đến Cần Thơ.



Cần Thơ – Bến Ninh Kiều

 

CanTho.jpgỞ Cần Thơ một đêm một ngày, tôi không có ấn tượng gì rõ rệt. Đây là một thành phố cỡ trung với những con đường thẳng góc, người qua lại đông đúc vào giờ tan tầm,  cũng có những con phố im lìm, những ngôi nhà khang trang đóng kín cửa. Bến Ninh Kiều là một công viên xây dọc theo bờ sông, đầy rẫy nhà hàng. Chúng tôi ăn tối ở một nhà hàng kiểu Tây, nhưng vì là kiểu Tây nên thức ăn sao mà nó lai căng, Mỹ không ra Mỹ Việt không ra Việt, có điều được nhiều khách Tây chiếu cố. Trời nóng ẩm, nhiều muỗi mòng khiến bến Ninh Kiều không đem lại cho tôi niềm thích thú nào cả. Bữa sau, chúng tôi  được cho xuống một chiếc tầu có nhà hàng đậu ngay bến để ăn tối và sau đó dạo chơi trên sông. Nhà hàng chật hẹp vì kê quá nhiều bàn ghế, tiếng ca nhạc “sống” đinh tai nhức óc khiến chúng tôi chẳng cảm thấy vui thích cho lắm nên về sớm, bỏ chuyến hóng mát trên sông.

 

Hôm sau, theo đúng lời hứa, cô hướng dẫn viên cho chúng tôi đi xem chợ nổi Cái Răng. Lại ra bến, xuống một chiếc đò khác. Đò này cũng có 6 chỗ ngồi, có mái che nắng và vài cái áo phao còn mới. Bà lái đò cũng mặc đồ bộ nhưng bặt thiệp, nhanh nhẹn hơn bà hôm qua nhiều. Vừa lái đò, bà vừa nói chuyện cell phone rổn rảng, hiện đại vô cùng. Thời buổi kinh tế tư bản có khác! Sông Tiền thật lớn, ghe thuyền qua lại không ngớt. Cây cầu Cần Thơ lúc này chỉ là những trụ đơn độc chưa được xây nối lại. Mấy tháng sau, chính chiếc cầu này đã bị sập trong lúc xây, đè chết mấy chục người công nhân nghèo vô tội.

 

Dọc bờ sông là những cửa tiệm lớn nhỏ đủ loại, từ nhà máy nước đá, nhà máy xay lúa tới cây xăng, tiệm sửa tàu... Bờ sông lớn vẫn có những người xuống tắm gội, giặt giũ tự nhiên như trong nhà. Trẻ em tập lội bì bõm, khoắng nước, tạt nước hồn nhiên.

 

 

Chợ nổi Cái Răng

 

CanTho3212.jpgĐi khoảng 20 phút chúng tôi tới chợ nổi Cái Răng. Đây là nơi tập hợp của chừng 3, 4 chục ghe thuyền lớn nhỏ. Họ đi dọc sông, mua hàng từ những nhà vườn và đem ra đây bán. Có vẻ đây là chợ bán sỉ nhiều hơn bán lẻ vì hàng hóa chất ngập ghe đầy khẩm.  Ai cũng là người bán cả, người mua như lũ du khách chúng tôi thì ít vô cùng. Nhìn quanh quẩn, tôi thấy hình như chỉ ghe của chúng tôi là du khách mà thôi. Và rất nhiều người bán đang  chĩa mũi ghe vào chúng tôi. Từ chiếc ghe nhỏ bán nước giải khát, cà phê, thức ăn cho đến những ghe bán trái cây. Ghe bán đồ ăn thức uống thường chở theo cả trẻ em nhỏ. Mấy em cũng biết giơ mấy lon nước coke, nước cam mời mọc. Nét mặt các em bình thản, buồn buồn, ít thấy đứa nào lanh lợi, xứng danh con nhà buôn bán. Quần áo các em thật lam lũ, đơn sơ. Kết luận: con nhà nghèo là nhất thiết chỉ có cách buôn gánh bán bưng (bán lẻ trên thuyền thì cũng thế) để kiếm sống mà thôi.

 

Ghe bán trái cây thì cũng 3, 4 chiếc, trực chỉ ghe của chúng tôi mà đâm vô mời chào xoài, sầu riêng, bưởi... Tôi mua mấy chục xoài vì ăn thử thấy ngon, sau mới biết bé cái lầm, xoài cho ăn thử là một thứ mà xoài bán cho mình là thứ khác, nhạt thếch. Mua thêm 2 trái sầu riêng vì cũng thấy ngon, sau cũng thất vọng vì đem về nhà ăn thì bị sượng và nhạt. Không biết là lỗi tại mình không biết lựa hay lỗi tại người bán cố ý gạt mình vì thấy dân Việt kiều “khờ khạo”. Vài hôm sau đi mua trái cây ở chợ Bến Thành thì cũng khờ khạo nhờ họ lựa vì là người thân của người quen, đem về nhà thì chỉ mấy trái bên trên là tốt còn trái bên dưới thì dập hư hết. Ở Mỹ thì rất ít, hay đúng hơn là không, thấy chuyện này, nhất là khi mua hàng của dân Mỹ. Vì hàng đem về thấy xấu, hư là cứ tự nhiên đem ra trả lại. Sức mấy mà người bán dám nhét đồ hư ở dưới. Ở Mỹ lâu, tôi quên hết cách bán hàng của người Việt ở các chợ. Chắc họ cho là mình chỉ mua hàng một lần, ra đi là không trở lại, nên “cóc cần”.

 

MienTay_20_ChoNoiCaiRang.jpgChợ nổi Cái Răng nổi tiếng là đây sao? Chẳng có gì để mà kinh qua, trừ vài nỗi buồn lợn cợn trên đường về.

 

Ngang qua một con rạch nhỏ, cô hướng dẫn viên đề nghị chúng tôi vào thăm một lò hủ tiếu. Thực hồi đó ở Việt Nam 25 năm nhưng tôi chưa hề thấy lò hủ tiếu bao giờ. Vì thế, chúng tôi cùng đồng lòng đi “tham quan”. Lò hủ tiếu là một chái nhà thật rộng nằm bên hông và đằng sau một căn nhà, đầy những lò nước tráng bánh đã dập tắt, sàn xi măng đã được rửa nước sạch nhưng vẫn còn vương mùi gạo chua. Chúng tôi tới nơi thì những người thợ vừa dọn dẹp xong xuôi, chẳng thấy hủ tiếu đâu. Chỉ thấy những vĩ tre phơi những tấm bánh tráng treo đầy dẫy, gác cả trên những bụi cây. Những tấm bánh khổng lồ này sau đó sẽ được đưa vào máy cắt thành những sợi hủ tiếu. Trong một góc nhà, một anh trai trẻ nằm ngủ ngon lành cùng với thằng con trai trên chiếc võng. Đằng sau những bếp lò tráng bánh là vài chuồng heo chứa những con heo nái to chưa từng thấy. Đất còn lại thì trồng chuối, trồng dừa. Nơi đây con người sống thật giản dị, mọi thứ trộn lẫn, người lớn, con nít, heo, chó, gà, cây cỏ,... hủ tiếu. Công việc và gia đình cũng trộn lẫn, phơi bày tự nhiên. Xóm nhà tôi ở trước năm 75 cũng như thế này đây. Hơn 50 năm rồi, đất nước tôi chưa hề thay đổi, mà có lẽ cũng chưa hề thay đổi cả trăm năm nay, sau bao nhiêu dâu bể của lịch sử. Tôi thấy thương những người dân xóm nghèo sống hồn nhiên theo cùng vận nước.

 

 

Nhà cổ Bình Thủy, Cần Thơ

 

NhaCoMienTay_W.jpgNhà này được xây từ năm 1870, lâu đời và lớn hơn nhà cổ trước. Đây là phủ thờ họ Dương, một viên quan triều Nguyễn. Nhà nằm trên một khu đất thật rộng, có vườn trước sau, có hồ nước bên hông. Cảnh vật tuy có vẻ được săn sóc nhưng vẫn toát ra một vẻ luộm thuộm vì cây cảnh trồng tán loạn không theo một kiểu nào cả, nước sơn thì loang lổ, những viên gạch long ra, vôi vữa rơi rụng... Trước cảnh này, tôi cảm thấy buồn buồn, nhận ra sức ăn mòn của thời gian. Cô hướng dẫn viên kêu cửa. Một bà trung niên gầy ốm ra mở cửa cho cả đoàn vào trong nhà. Căn nhà thật lớn, có đến 5000 bộ vuông, cũng xây theo kiểu nhà thờ 5 gian. Sàn lót gạch bông, bộ sườn nhà bằng gỗ với  những vách ngăn chạm trổ thật tinh vi, điêu luyện. Bàn thờ thật lớn, bầy biện đủ mọi vật trang hoàng và hình ảnh. Cũng như căn nhà trước, vật dụng trong nhà này nửa tây nửa ta. Lẫn lộn với những đồ sứ tàu và ta mới cũ là những vật dụng Tây phương như sofa, bồn rửa tay, tranh ảnh. Hiện nay nhà này vẫn còn được dòng họ duy trì như một nơi để tụ  họp đại gia đình trong những dịp cúng giỗ. Hy vọng là nó vẫn sẽ còn đứng vững lâu, để làm chứng nhân của một thời đại.

 

Ngoài sân căn nhà kế bên cũng thuộc gia đình họ Dương là một cây xương rồng vĩ đại cao chất ngất đến 8 mét tức 24 bộ. Xương rồng mọc ở đất thịt nhiều mưa miền Nam nước Việt kể cũng lạ. Nhưng vì thân cây quá cao mà không có tàn rộng lớn, cây được giữ thẳng bằng những dây cột ngang cột dọc, làm mất đi vẻ đẹp của cây phần nào.

 

 

Vườn cò Bằng Lăng

 

VuonCo_1.jpg“Hồi đầu tôi trồng tre vì muốn lấy tre làm bàn ghế bán xuất khẩu. Tôi trồng nhiều tre lắm vì đất nhiều, cả mấy mẫu. Sau không biết ở đâu mà cò về nhiều quá, đủ loại cò. Chúng nó làm tổ, đẻ trứng ngày càng nhiều và hồn nhiên, vô tư “nhận nơi này làm quê hương”. Tôi cũng không biết làm sao mà đuổi chúng đi, vả lại cũng không thể thu nhập từ rừng tre, nên tôi nghe lời chính phủ biến nó thành vườn cò cho khách du lịch đến xem.”

 

Đó là sự tích vườn cò Bằng Lăng theo lời bà chủ vườn, hiện đang ngồi bán quán cóc với hai cô con gái ngay tại cây cầu dẫn vào thăm vườn cò. Chúng tôi đã đến đây sau khoảng 20 phút đi đò trên một con kinh, có thể gọi là “kinh nước đen” theo tên một tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long. Thực ra có thể viếng vườn cò bằng đường “xe ôm” nhưng cô hướng dẫn viên muốn chúng tôi đi bằng đò để nhìn rõ mấy con cò hơn mà cũng nhìn được một khía cạnh khác của cuộc sống nơi thôn dã, sâu vào trong, xa những con sông lớn tấp nập. Cô thiếu nữ trẻ này coi bộ cũng suy nghĩ sâu xa, cám ơn cô. Chúng tôi xuống chiếc thuyền nhỏ do một ông trung niên lái. Có cả thằng bé 6 tuổi con chủ thuyền đi theo. Thằng nhỏ lóc chóc, nhanh nhẹn nhưng cũng hơi nhút nhát, không biết trả lời những câu hỏi của người lớn, khác với cái dạn dĩ của trẻ con phương Tây.

 

Hai bên con kinh, nhà cửa của dân thưa thớt, có những nhà sàn nằm gie ra kinh. Nhà nghèo làm thật sơ sài, sàn được nâng đỡ bằng những gốc tràm, mái lá, vách ván đơn sơ, trước sân là cái “bàn thiên” cố hữu của dân miền Nam. Lâu lâu điểm vài căn nhà gạch của nhà giàu. Nhà nào cũng có cái cầu bắc xuống sông. Nước đen ngòm nhưng họ vẫn xuống đó tắm gội, giặt giũ in hệt như ven sông lớn, nơi nước chảy mạnh và sạch hơn. Con nít, người lớn gì cũng xuống kinh đứng tắm, lội... Ý thức về vệ sinh của họ ra sao? Chắc chẳng có chút gì. Và bao nhiêu người đã sống chung với những ký sinh trùng từ năm này qua năm nọ. Chắc tuổi thọ của họ không dài. Một lần nữa, tôi thấy người dân quê sống thật “vô tư”, chung đụng với thiên nhiên và những giống vật khác một cách thoải mái. Thực ra thì không “vô tư” cũng không được. Và “vô tư” thì tốt hơn, khác với những người sống ở thành thị, ở những nước văn minh, “tư” quá nhiều nên lo lắng nhiều, đâm khổ.

 

CoBangLang2.jpgCàng gần tới vườn cò, chúng tôi càng thấy nhiều dấu vết của cò. Đó là những bãi phân nhuộm trắng những bụi tre dọc theo kinh, nhuộm cả đất một mầu trắng xóa. Vài chú hay chị cò đi dạo thong dong trên bờ. Thỉnh thoảng, giữa rừng tre là một chiếc miễu thờ sơn mầu vàng với những tượng nhiều mầu sắc. Tôi tưởng vườn cò chỉ có vậy, sau mới biết là lầm. Thuyền cập bến cho chúng tôi lên bờ. Tiếng máy nổ chạy nghe đinh tai nhức óc. Tôi nhìn quanh để tìm xem tiếng động từ đâu ra. Thì ra đó là chiếc máy bơm nước từ con kinh qua chiếc hồ rộng nuôi cá tôm ngay cạnh vườn cò. Mọi người sống triền miên trong tiếng động kinh hoàng này nên có lẽ đã quen, chẳng thấy ai thắc mắc gì cả. Mà gẫm lại, thấy dân Việt Nam hình như sống trong tiếng động hơi nhiều. Đường phố thị thành lúc nào cũng vang vang những tiếng còi xe, đi trên sông thì nghe tiếng máy đuôi tôm lạch xạch thật lớn, tới đây thì nghe tiếng máy bơm nước xoáy vào màng nhĩ. Thứ nào cũng kêu rất to, rất giòn.

 

Vườn cò bán 5000 đồng một vé “vào cửa”. Mua vé ở ngay đầu cầu xong rồi thì cứ thơ thới bước qua chiếc cầu bắc ngang con kinh để vào khu vực vườn. Hôm nay vườn rất vắng vẻ, ngoài chúng tôi chỉ có một vài người khác.  Chiếc cầu ván đã có những miếng ván mục long ra khiến bước chân du khách phải ngại ngùng. Qua chiếc cầu là giang sơn của cò. Rừng tre dầy đặc. Muốn xem cò phải leo những bậc thang uốn vòng để lên tới “đài ngắm cảnh” cao độ 5 mét. Nơi đây du khách phóng tầm mắt ra xa trên ngọn rừng tre để thấy rõ cảnh cây lá ngút ngàn. Nhưng vì không do chủ động làm ra vườn nên khung cảnh trước mặt không có gì hấp dẫn lắm, chỉ là những lá cành mọc trải dài, trên đó là hàng ngàn, hằng vạn con cò đủ loại đang “vô tư” sống cuộc đời của chúng. Có con mầu cam trên chỏm đầu, con đầu trắng, con đầu đen, con mỏ dài, con mỏ ngắn. Nhưng hình như bộ lông con nào cũng mầu trắng cả. Tôi nào biết loại nào với loại nào. Chúng bay lên, đáp xuống nườm nượp. Nhìn kỹ thấy vô số cò đang nằm im trên những ngọn cây. Tuy đứng trên đài ngắm cảnh cao nhưng chúng tôi cũng chỉ thấy những chú cò ở xa, chẳng có con nào dám đến gần đài để du khách “xem mặt” cả. Nhìn vào ống kính máy ảnh, tôi thấy khó có thể chụp tấm ảnh cò nào coi cho đẹp vì chỉ toàn là cành lá điểm những con cò bé tí, chìm lẫn trong mầu xanh của lá và mầu vàng của cành. “Zoom” thật nhiều sẽ thấy rõ những con cò hơn. Đẹp nhất là con cò có chỏm lông mầu cam trên đầu trông như chiếc vương miện. Nhìn cảnh này tôi nhớ đến câu “Đất lành chim đậu”. Đây có phải là miền đất lành để quyến rũ hằng vạn con cò về sống thảnh thơi? Hay câu tục ngữ chỉ là một câu phú, mượn vật để nói chuyện người?

 

Vườn cò dù có mênh mông bát ngát, có tiếng cò bay lên đáp xuống lao xao, thì cũng chỉ là một cảnh tẻ nhạt không chiếm được sức chú ý của du khách cho lắm. Đứng vẩn vơ trên khán đài chật chội được mươi mười lăm phút là du khách đã muốn đi xuống cho rồi. Thảo nào vườn vắng vẻ quá. Tội nghiệp cho công phu và niềm hy vọng của bà chủ vườn khi biến vườn thành một địa điểm du lịch.

 

BaMeCon_VuonCo_Web.jpgXuống lầu, chúng tôi qua trở lại cây cầu cong cong để bước đến quán của bà. Bên cầu là một địa điểm vui chơi gồm bàn bi da, nhà hàng nhưng không thấy ai ra vào cả. Bên cạnh là chiếc hồ nuôi cá thật lớn. Bà chủ đất cũng giàu đấy chứ. Nhưng bà và cô con gái vẫn ngồi cạnh chiếc bàn nhỏ ngay chân cầu, trước nhà hàng để bán vé xem cò và những thứ lặt vặt, vài trái cây, đồ chơi, dép... Xa hơn chút nữa là những vồng đất trồng bông huệ, thứ hoa có hương thơm ngát thường  dùng để chưng bàn thờ ở Việt Nam. Những nhành bông huệ vươn cao, xanh mướt khiến tôi càng thấy yêu quê vườn , yêu thiên nhiên hơn. Khoảng vườn này tràn đầy ánh sáng, khác với mầu buồn buồn tối tối của vùng vườn cò vì rừng tre đã che mất ánh mặt trời. Vài người đi xe gắn máy, xe đạp di chuyển từ tận xóm bên trong trên con đường đất song song với con kinh nước đen. Lớn lên ở Việt Nam nhưng tôi có cảm giác mình chưa biết gì nhiều về quê hương đất nước. Ai sống trong những xóm sâu bên trong kia, họ sống về nghề gì, có những niềm vui nỗi buồn nào? Có lẽ tôi cần đi vô sâu hơn, sống ở quê hương nhiều hơn, lâu hơn để biết dân mình.

 

Dù sao cũng cám ơn chuyến đi đã cho tôi có cơ hội đi sâu một chút vào làng xóm Việt Nam, biết được tâm tình của vài người, ít nhất là chuyện bà chủ vườn cò.

 

(Xem tiếp: Thăm dân cho biết sự tình)

 

Ảnh: Vien Dong Daily News

 

© Vien Dong Daily News

Advertisement
Advertisement
Advertisement

MỚI CẬP NHẬT