Wednesday, 22/07/2020 - 09:12:20

Võ Hoàng


Võ Hoàng (1952-1987)


Bài LÝ KHÁNH HỒNG

Võ Hoàng, một cây viết mới sau 1975, nhưng được người đọc đón nhận rất sớm như là “nhà văn trẻ,” có thế giá, thời đó, cùng thời với Nhân Văn, là một tạp chí văn học, chính trị,... do anh và các bạn anh lập ra.

Và Võ Hoàng, nhà văn. Mà…

Cái văn phong từ tốn, tỏa ra từ những lối sống đặc biệt của một lớp người ở vùng sông nước tĩnh lặng. Không nhốt nổi cái rực lửa của lòng mong, cùng đồng bào về dành lại đất nước. Để thành, một Kháng chiến quân. Và,...

Tôi chọn “Lạch Đước,” một truyện ngắn của Võ Hoàng, mời đọc. Vì với truyện ngắn này. chúng ta, sẽ gặp lại một Võ Hoàng với nhiều “bộ dạng,” từ con người thật bên ngoài đến con người nhà văn, và cũng cả con người kháng chiến quân của anh.

Xin mời...

*

“Chiều gần hết rồi à nghe không Bình,” ông Lược nói chầm chậm. “Mầy phải tiếp với tao, bơi cho nó mau tới, để chút xíu nữa bớt gió một cái, muỗi nó mần thịt mình cấp kỳ.”

Con Bình uể oải với tay kéo cái dầm mà hai con mắt ngó ở đâu đâu. Nó thọc cái dầm xuống nước, lẩy nhè nhẹ, làm như không hay rằng mình đang lẩy dầm. Ông Lược cằn nhằn:

“Mầy ba trợn vừa vừa thôi nghe Bình. Mần cái gì mà lẩy ngược, lẩy ngược không vậy?”

Con Bình giật mình đưa dầm lên cao, trườn người tới đàng trước cắm dầm xuống, rán kéo một cái. Nó biết, nó kéo lấy có chớ thiệt tình cái sức của nó, kéo còn chậm hơn trớn đi của chiếc xuồng. Từ xế tới giờ này, ba hồi nó ngồi xếp bằng, ba hồi nó thòng chân xuống nước và lúc nào cũng ngó hai bên lạch. Bắt đầu từ ngã ba đầu tiên quẹo vô đây, nó thấy cảnh vật âm u mà kỳ cục quá. Thiệt hồi nào tới giờ, nó tưởng con sông rộng thênh thang, suông đuột như từ ngoài vàm vô xóm nhà vậy thôi, ai dè càng đi sâu vô, rồi lọt qua con lạch này, thấy ghê quá. Nó quay ngược về ông Lược:

“Chừng nào mới tới lận, ông chú?”

“Mầy hỏi hoài vậy mầy. Chút nữa!”

“Hồi trưa ông chú nói còn một chút, bây giờ cũng một chút. Tối rồi!”

“Ừ… Tối rồi. Chút nữa tới mà.”

*

Chuyện bắt đầu như vậy. Với, người. Người trong truyện “Lạch Đước” của Võ Hoàng. Họ đó. Người Nam rặt!

Qua lối nói thôi. Chưa hề tả chân (tả cẳng?) nhân vật gì ráo.

Chỉ qua cái lối đối đáp, có chút trả treo, giữa (một) người lớn và cái con nhỏ.

Nghe ra như quen quá....

Thì của cái thời Mở Cõi, Nam Tiến, lớn nhỏ gì cũng được coi như nhau.

Cái cần, là cần có đối thoại, có nói có nghe. Chớ sống ở đây trơ trọi, cu ky quá mà.

Riết quen thành thói!

Đọc tiếp, mới thấy tui nói đúng...

*

Gió chưa bớt mà muỗi rừng bay theo xuồng từng đám thiếu điều đóng thành cục trên đầu hai người. Ông Lược ngậm hai hàm răng cứng lại, cúi mình ráng bơi thiệt mau.

Chiếc xuồng ba lá chút chút ngóc đầu cao lên rồi sấn tới rào rào. Trong lạch không có lục bình thành ra cũng khỏe hai con mắt, cứ nhắm chừng mà phóng tới.

Qua gần hết mùa nắng, trên mặt nước nổi đầy lá đước khô, không vàng mà có màu tím sậm. Xuồng đi tới đâu, nổi sóng tới đó. Những lá đước bị nước tràn lên mặt, mất màu rồi nhấp nhô ít cái, chìm lỉm. “Đường này ít người qua lại lắm,” ông Lược nghĩ. “Kể ra mình đi như vậy cũng liều mạng. Đêm tối mà lạc đường một cái thì chết thiệt chớ hổng phải chuyện chơi đâu.” Ông tằng hắng mấy tiếng rồi nói nhỏ:

“Mầy phải nhúc nhích hoài hoài mới được, nghe Bình. Ngồi một chỗ muỗi nó cắn mầy ráng chịu.”

Con Bình không trả lời, mắt ngó về một bên lạch. Trời càng lúc càng tối, mà tối lẹ quá.

Những bóng cây lúc này không còn hiện rõ nữa. Khoảng trời đàng xa cũng gần tiệp với màu nước. Nó biết không bao lâu nữa là hết thấy đường đi. “Để coi ông chú làm sao cho biết.”

*

“Để coi. Để coi…. Để coi ông chú làm sao cho biết.”

Hỏng phải chỉ có trả treo. Mà còn rắn mắt.

Cái rắn mắt ở một đứa trẻ con? Tôi sợ, không phải. Vì nó làm ló ra cái ánh mắt thông minh, lém lỉnh, kèm theo.

Của ai, cô bé? Hay của người.... nào. Vì cũng háo hức với những sự việc xảy ra, khác gì , đang sống....

Trời càng lúc càng tối, mà tối lẹ quá. Những bóng cây lúc này không còn hiện rõ nữa. Khoảng trời đàng xa cũng gần tiệp với màu nước.

... giọng,... nghe quen như đã quen nghe, người...

Là người kể chuyện. Ở bên ngoài câu chuyện. Người kể. Võ Hoàng. Cũng Nam kỳ rặt.

Từ xế tới giờ này, ba hồi nó ngồi xếp bằng, ba hồi nó thòng chân xuống nước và lúc nào cũng ngó hai bên lạch. Bắt đầu từ ngã ba đầu tiên quẹo vô đây, nó thấy cảnh vật âm u mà kỳ cục quá. Thiệt hồi nào tới giờ, nó tưởng con sông rộng thênh thang, suông đuột như từ ngoài vàm vô xóm nhà vậy thôi, ai dè càng đi sâu vô, rồi lọt qua con lạch này, thấy ghê quá. Nó quay ngược về ông Lược:

“Chừng nào mới tới lận, ông chú?”

“Mầy hỏi hoài vậy mầy. Chút nữa!”

“Hồi trưa ông chú nói còn một chút, bây giờ cũng một chút. Tối rồi!”

“Ừ… Tối rồi. Chút nữa tới mà.”

Thiệt hồi nào tới giờ,... tưởng con sông,…suông đuột,... ngoài vàm,... ai dè,... lọt vô con lạch này,... Có cái gì mà hổng Nam kỳ.

Cứ thử đọc lại Võ Hoàng, đoạn sau có thua gì đối thoại Lê Xuyên.

Con Bình ngồi chồm hổm nhích lần tới khoảng giữa xuồng, rà tay xuống những ngăn nước đọng rút lên được cái gáo dừa tròn vo rồi múc từng gáo tạt ra ngoài. Nó hỏi:

“Lạch này đi dìa tới Đầm Dơi chỗ ngoại con ở lận phải hông ông chú?”

“Đâu có. Đầm Dơi với đây xa biệt ngàn, có bơi cả tháng mới tới. Ở trong này hổng phải là cái gì hết. Chưa có tên.”

“Phải chi mình đi ngoài sông lớn, thế nào cũng có gặp nhà người ta, hỏi thăm.”

“Ừ… Ngoài sông lớn, đi hoài thì tới Thới Bình. Mà mình đâu có đi Thới Bình.”

“Vậy chớ ông chú đi đâu?”

“Thì đi vô đây!” Ông Lược gắt.

Dường như thấy mình vô lý quá, ông xuôi dầm cập sát be xuồng, nói từ từ:

“Ông chú đi tới nhà một người quen mấy năm nay chưa gặp lại. Hỏi thăm, người ta chỉ phải đi đường này. Mà sao tới bây giờ chưa thấy đám dừa nước cháy.”

“Mình tới đâu vậy ông chú?”

“Chưa tới đám dừa nước. Chỗ này có tên gì đâu mà nói. Mầy kêu Lạch Đước cho rồi đi.”

Con Bình thôi không hỏi nữa. Nó quăng gáo dừa, lót hai tấm vạc lớn rồi trở ra trước mũi kéo lên cuốn đệm lạt, mở dây, chêm một phần dưới đít rồi cứ ngồi thừ ra. Nó hết muốn biết lúc này ông cháu nó đang ở đâu và sẽ đi tới đâu. Đêm nay chắc cũng như đêm hôm qua, trời không có trăng, khỏi phải ngó thấy cây cối âm u, trời nước chập chờn.

“Chút nữa quấn tấm đệm, ngủ một giấc là yên chuyện.”

“Mầy nghe hông Bình. Tao ngưng tay dầm một chút là muỗi nó dậy liền đó thấy hông.

Chèn ơi, nó bay, nghe mà rởn ốc.”

Con Bình nãy giờ lo ra chớ cũng phải phủi liền tay. Nó vừa kéo tấm đệm phủ lên mình, vừa ầm ừ:

“Có nghe, có nghe.”

Là có nghe tiếng muỗi bay, “nghe mà rởn óc.”

Mà có nghe tiếng trả lời nào đâu, cho những câu hỏi,

“Vậy chớ ông chú đi đâu?”

“Mình tới đâu vậy ông chú?”

Thì đây,... nghe Võ Hoàng kể,...

*

“Thằng cha Phương lò than biểu là từ đầu con lạch vô tới đám dừa cháy, bơi xuồng chừng ít tiếng đồng hồ mà sao mình bơi cả nửa ngày chưa thấy. Mình có đi lộn rạch hông?” Ông Lược thắc mắc quá. “Cha Phương lò than thì nhứt định là hổng nói dóc. Hai thằng con trai của chả đi lính Quốc Gia hy sinh hết mà!”

Ông Lược mường tượng lại điệu bộ thằng cha Phương nào đó, hấp tấp, úp úp mở mở, cà kê nửa ngày trời mới dám nói hết cái tin nhắn của thằng Hòa, thằng cháu họ, ba con Bình. “Cỡ này mấy ổng đỡ khổ hơn hồi trước rồi. Đông người, giúp đỡ, che chở với nhau. Cậu Hòa được anh em thương lắm. Cậu nhắn thế nào ông cũng tìm cách đưa con Bình vô đó một lần.”

Con Bình sáu bảy tuổi thì thêm một tai họa nữa xảy đến cho nó. Lần này thì hết nước. Ba nó đi biệt luôn không về nữa kể từ lúc quân đội Cách Mạng tràn vô chiếm đóng hết làng xã. Ông dắt díu con cháu bỏ Năm Căn về dựng chòi ở cái xóm gần vàm Ông Đốc này sống lây lất qua ngày. “Bên ngoại mầy cũng đâu còn ai lo cho mầy nổi. Dìa ngoài đó, tao làm ruộng tao nuôi mầy. Chắc mai mốt ba mầy cũng dìa, như người ta.” Năm đầu tiên, hai ông cháu chờ tin ở ngoại quốc. Năm thứ hai cũng chờ, rồi chờ cho tới mấy năm nay. Lần lần ông Lược rán tránh không nhắc tới ba con Bình trước mặt nó nữa.

Thỉnh thoảng con nhỏ có hỏi, ông nói trớ đi liền, “Ba mầy ở xa, chắc có vợ khác rồi, mầy nhắc tới gì nữa, nó quên mầy rồi!” Ông biết, đơn vị ba con Bình cái ngày gần cuối cùng thì đương đóng ở Vị Thanh, Chương Thiện, lúc đó đâu có đánh nhau, miệt dưới này thì yên lắm mà. “Nó hổng ở ngoại quốc, là nó ở trỏng. Thì coi như nó đương ở xa vậy mà, ở đâu cũng vậy!” Mấy năm trước, nghe đâu khoảng từ Giồng Riềng, Sóc Ven đổ xuống, nhà nước bắt được ba bốn người ngụy quân sống trong rừng không chịu ra trình diện đăng ký, ông hỏi thiệt kỹ cho tới khi biết được không phải là ba con Bình mới thấy yên lòng. “Má nó chết bấy nát mình mẩy, hổng lẽ trời khiến ba nó bị xử tử nữa sao!”

*

Rõ rồi. Là ông Chú đưa cô bé Bình đi tìm cha. Một Phục quốc quân hay một Kháng chiến quân… sống đâu đó trong rừng.

“Nó hổng ở ngoại quốc, là nó ở trỏng.”

Cỡ này mấy ổng đỡ khổ hơn hồi trước rồi. Đông người, giúp đỡ, che chở với nhau.

Chuyện kể, như xong.

Bây giờ, mình nói qua chuyện văn.

Sao tôi lại lôi ông Lê Xuyên vào chuyện khi đề cập tới đối thoại của Võ Hoàng? Lẽ ra phải nói tới Sơn Nam chứ.

Phải nhắc tới Sơn Nam. Có vậy, Võ Hoàng mới chịu.

Võ Hoàng chịu ảnh hưởng của nhà văn lão thành miền Nam. Ông Sơn Nam?

Ông Sơn Nam, có ảnh hưởng trên Võ Hoàng hay không? Có thì có cái gì?

Về cách viết, dựa trên đối thoại. Võ Hoàng và Sơn Nam, cùng viết như một tác giả chuyên trị ngôn ngữ miền Nam. Cái này, không nhất thiết là ai chịu ảnh hưởng ai. Bao nhiêu cây viết tỏ ra mình như nhà văn miền Nam. Võ Kỳ Điền, Nguyễn Đức Lập, và Hồ trường An,...

Có ai với các đối thoại “như”... vậy mà thành có hơi hướm với Sơn Nam. Mình chưa kể tới Lê Xuyên, một ông tổ khác về đối thoại miền Nam.. Nghe chú Tư Cầu. Nghe đi.

Nghe Tư Cầu, cười mỉm nhiều, ít nói. Để nghe người ngồi bên, ỏn thót, mè nheo, trách cứ,...

 Rồi sẽ thấy. Giọng điệu miền Nam của chú Tư Cầu sống động hơn những nhân vật của ông Sơn Nam. Hơn nhiều! Sao không nói Võ Hoàng giống Lê Xuyên?

Thử so đoạn đối thoại của Võ Hoàng mà tôi cho là giống với ông Lê Xuyên, với đoạn này của Sơn Nam, mà tôi lật sách ra, đọc như kiểu dân gian mình “bói Kiều,” gặp đâu đọc đó. Cho có vẻ randomly, tình cờ (!?)

*

“Bà Hai gọi ông Hai ra phía sau. Hai vợ chồng nói qua lại thì thào. Ông Hai trở ra.

- Ý của cháu như thế nào? Miệt này, mùa này ai rủi ro thì cũng vậy. Bác coi cháu như người nhà nên mới nói thiệt. Phải chôn gấp nội chiều nay, lòng vòng chờ sáng mai không lợi ích gì.

Thằng Kim hỏi:

- Thưa bác, chôn ở đâu?

Đoán được vẻ lo âu sợ hãi ấy, ông Hai Tích ngập ngừng:

- Nói chôn cho đúng tục lệ chớ đất ở đâu mà chôn? Tứ bề là nước. Có hai cách: một là xóc cây tréo ở giữa đồng rồi treo lên mặt nước, chờ khi nước giựt mới đem chôn lại dưới đất. Như vậy mất công lắm, diều quạ hoành hành. Chi bằng bó xác lại rồi dằn cây dằn đá mà neo dưới đáy ruộng...

Thằng Kim đập đầu xuống sàn nhà, hai tay bứt tóc:

- Trời ơi, phải biết vậy, ba tôi đi tới xứ này làm chi...

Bà Hai Tích rưng rưng nước mắt:

- Cháu đừng khóc. Trời định vậy. ở đây ai cũng vậy; người có của, ai tới xứ này? Trách cha, trách mẹ, trách trời là thêm tội. Cháu thắp nhang đi, lạy không được thì xá ba xá. Bác ra tay giùm. Trời chạng vạng, lát nữa tối tăm, khó lắm…”(1)

*



Lối nói rặt ròng Nam kỳ, có hơi hướm, như quen thuộc của một giọng văn, mà người vô tình nào cũng sẽ thấy ra. Nhưng chỉ cái quen thuộc đó. Không đủ.

Trước đây, vì ít người dùng, còn có thể nhập nhằng.

Không kể là đờn rao hơi “Nam,” hơi “Bắc” gì ráo trọi. Cứ như có sẳn “Đêm ở Gành Hào nghe bài Vọng cổ Hoài Lang,” là ca! Hay “Phải lòng cô gái Bến Tre,” cũng vậy.

... Để thấy. Ngôn ngữ miền Nam, chẳng qua là vốn liếng ông bà cho. Cho chung.

Nhưng dùng cái vốn liếng ấy cho cái gì. Thì có khác.

Với ông Sơn Nam, mở miệng, là dịp nhắc nhớ những cách sống, lối sống. Mà còn những cách thế “Phải đạo, theo thời, theo thế,...”

Đằng này. Chú Tư Cầu của Lê Xuyên và cái con nhỏ Bình, ông già Lược, trong Lạch Đước, họ nói chuyện với nhau. Họ sống trong chuyện...Họ sống.

Như tụi mình. Cũng sống với họ trong chuyện kể. Thấy hông?

Ngay chuyện tả cảnh,...

*

“Đằng xa kia, ẩn hiện trên ngọn sóng ngọn lúa xanh rì. Từ hồi sáng, mặc dầu nó bơi liên tiếp, cảnh vật chung quanh vẫn y hệt. Nước chảy hăng, tràn lan từ bờ sông Hậu Giang ra vịnh Xiêm La, chảy mãi về hướng Tây. Nó thắc mắc; nước ở đâu mà nhiều quá, ngập đồng ruộng, sâu cỡ hai thước, mênh mông không bờ bến như biển khơi. Hồi hôm qua, lão Bích dẫn giải:

Đây vùng ruộng sạ thuộc tỉnh Long Xuyên. Hằng năm, nước lên vài tháng rồi giựt xuống. Đi tắt như vầy hơi cực nhưng không ai xét giấy thuế thân.

Giờ đây, nó mới hiểu rõ sự thật của tiếng “hơi cực”. Nhớ lúc đi qua quá Đại Ngãi để vượt ngang sông dài Hậu Giang, nước sâu, sông rộng nhưng nó cảm thấy dễ thở hơn. Sông rộng có giới hạn, bơi non một giờ là qua khỏi; giữa sông nhiều cù lao nổi lên giúp người đi đường vững tinh thần, rủi chìm xuống thì lội vô cù lao. Vùng ruộng sạ này có khác! Bờ bến ở tận chơn trời, nước tuy cạn nhưng có thể giết người, nạn nhân dầu lội giỏi, vượt năm bảy ngàn thước cũng không tìm được một căn nhà sàn, một ngọn tre mà nương tựa.

Mặt trời xuống, ngày một thấp. Và rặng cây ban nãy biến đâu mất rồi? Nó tự hỏi. Mặt nước tươi xanh, đám ruộng sạ của ai hiện ra hàng trăm công đất. Lạc vào đó e ngọn lúa vướng vào dầm khó bơi, nó quay xuồng qua phía tay mặt. Sóng gió đã dịu xuống. Phía trước mũi xuồng, lố nhố những đốm đen ngòm, chuyển động như giăng ngang kín chân trời…” (1)

*

Đoạn tả ở bên trên là do ông Sơn Nam.

Đoạn tôi chép lại sau đây mới là của tác giả Võ Hoàng.

Gió chưa bớt mà muỗi rừng bay theo xuồng từng đám thiếu điều đóng thành cục trên đầu hai người. Ông Lược ngậm hai hàm răng cứng lại, cúi mình ráng bơi thiệt mau.

Chiếc xuồng ba lá chút chút ngóc đầu cao lên rồi sấn tới rào rào. Trong lạch không có lục bình thành ra cũng khỏe hai con mắt, cứ nhắm chừng mà phóng tới.

Qua gần hết mùa nắng, trên mặt nước nổi đầy lá đước khô, không vàng mà có màu tím sậm. Xuồng đi tới đâu, nổi sóng tới đó. Những lá đước bị nước tràn lên mặt, mất màu rồi nhấp nhô ít cái, chìm lỉm. “Đường này ít người qua lại lắm,” ông Lược nghĩ. “Kể ra mình đi như vậy cũng liều mạng. Đêm tối mà lạc đường một cái thì chết thiệt chớ hổng phải chuyện chơi đâu.”

Cũng xuồng. Cũng nước. Cũng người chèo.

Cảnh trí thì có khác. Một bên, giữa mùa nước nổi, tràn bờ! Một bên trên một cái lạch của con sông nhỏ. Có khác.

Dĩ nhiên. Nhưng cách nói của Võ Hoàng làm linh động cả người, cả cảnh.

Lỡ so sánh. Phải dẩn đến cái kết luận chớ. (Đánh trống bỏ dùi sao anh...hai?)

Đành phải nói cái ý thô thiển của mình.

Có thể nào phải nói hai người, ai hơn ai, mới là kết luận muốn nói tới không?

Không đến như vậy. Lần này. Không cần ai hơn ai.

Tôi chỉ nói lên cái nhận xét của tôi.

Đọc Võ Hoàng, tôi nhận thấy bạn tôi, Võ Hoàng cố giữ cái mẫu mực của Sơn Nam. Mà thực ra bạn tôi đã Vượt. Không vượt bằng tài năng đi nửa. Chỉ cần vượt bằng, chính mình sống, sống thực với những điều, những chỗ, những tình cảnh,.. bạn tôi muốn nói tới…thôi. Cũng là vượt!

Không phải sao. Cứ đọc lại hai đoạn trên. Cái nào sống động hơn.

Không tự mình chèo. Sao biết được.

Ông Lược ngậm hai hàm răng cứng lại, cúi mình ráng bơi thiệt mau. Chiếc xuồng ba lá chút chút ngóc đầu cao lên rồi sấn tới rào rào. Trong lạch không có lục bình thành ra cũng khỏe hai con mắt, cứ nhắm chừng mà phóng tới.

Và nếu không chèo ở đây. Sao mà thấy được.

Gió chưa bớt mà muỗi rừng bay theo xuồng từng đám thiếu điều đóng thành cục trên đầu hai người...

Nhứt là

Qua gần hết mùa nắng, trên mặt nước nổi đầy lá đước khô, không vàng mà có màu tím sậm. Xuồng đi tới đâu, nổi sóng tới đó. Những lá đước bị nước tràn lên mặt, mất màu rồi nhấp nhô ít cái, chìm lỉm.

Toàn những cái, tại chỗ. Phải có ở đó. Tại chỗ, mới thấy.

Đọc Võ Hoàng, mình phải thấy “chàng” có nghề sông nước. Chàng có mắt quan sát.

Mà tới nơi tới chốn, hổng phải chơi đâu.

... trên mặt nước nổi đầy lá đước khô, không vàng mà có màu tím sậm. Xuồng đi tới đâu, nổi sóng tới đó. Những lá đước bị nước tràn lên mặt, mất màu rồi nhấp nhô ít cái, chìm lỉm...

Và chàng sống trên cái cuộc đất “sông nước” của chàng. Cái vùng đất mà Võ Hoàng chia với ông Sơn Nam. Tình và cả tính nửa. Của những người đến khai hoang lập ấp.

Thời Mở Cõi.

Tình làng xóm.

Tính. Nghĩa dõng, của những con người “giang hồ”, những phải đạo, nghĩa khí,...

Những cái người ta dễ có hơn tiền tài,....

Cái gì có. Mới giữ, mới phải giữ.

Cái tính làm nên con người.

Con người thì, dù có hợp với cái sống động của Lê Xuyên, những nhân vật của Võ Hoàng sẽ phần lớn mang dấu ấn của Sơn Nam.

Như ông Lược,

 Rồi ông nghĩ tới thằng cháu. Mai này, may mà gặp nó, mừng kể làm sao cho hết. “Mình quí nó ở cái chỗ nó dám làm cái việc mình cũng muốn làm mà sợ khó, sợ cực. Mình năm nay chưa được năm chục mà. Thằng, hồi trước thấy nó lầm lầm lì lì mà coi cũng tốt. Thà là sống như nó, mới đáng là sống. Còn đám bạn của nó nữa, chắc tụi nó đứa nào cũng dễ thương lắm. Ngày mai nhắm được, mình để con Bình lại cho ba nó, rồi trở ra ngoải. Coi, tiếp cho tụi nó được chút nào hay chút nấy.”

Võ Hoàng ngoài đời, cũng giống như ông Lược.

Trong những người nhắc tới Võ Hoàng, có người tôi không mấy biết về người này.

(Cũng là một lối nói, cứ ra vẻ biết. Thật ra là không biết gì.) Nhà văn này, lối sống và thế giới họ sống. Tôi không hề bén mảng, không có chỗ,...

“Khi tôi mở cái cánh cửa thì thấy một bầy mấy tên đàn ông đứng lô nhô sau cái quầy gỗ theo nhòm tôi từ từ đi vào. Nhìn lên cái đám đàn ông xôn xao ong bướm đó, (tôi đụng cái cốp ngay khuôn mặt đáng yêu của một cố nhân của tôi. Tôi không ngờ là kể từ ngày tôi rời bỏ New York có mấy tháng chung sống thơ mộng về lại San Jose, cố nhân cũng bỏ lớp bỏ trường Columbia đi lang bạt Cali, Hawaii năn nỉ mấy tôi cũng nhất định không ngoảnh mặt lại. Vậy mà giờ đây bất ngờ gặp hắn tại nơi này. Chỉ nhìn thấy cố nhân tối hôm ấy không, cũng đã đủ làm cho lòng tôi giao động.) Nhưng tôi cũng rán nhìn lên điểm mặt ngoài hắn ra còn những ai. Tôi chỉ nhớ ngoài anh Thủy ra có ba tên nữa. Tên cao lồng ngồng không thể lẫn vào đâu được là Tưởng Năng Tiến. Tên thứ hai thì đã có lần đi uống cà phê chung là Hoàng Phủ Cương. Còn tên thứ ba thì tôi biết tỏng đấy là Võ Hoàng.”

Nhưng tựa đề bài viết “Võ Hoàng, nhà văn: Kẻ dám sống trước nhân vật” của cô, Lê Thị Huệ, là nhà văn tôi đang nói tới, thì tôi nhận là đúng.

Võ Hoàng, hệt như nhân vật trong truyện của mình.

Nhiều người viết về Võ Hoàng. Họ đều có cái nhìn, Võ Hoàng, nhà văn và Võ Hoàng, Kháng Chiến Quân, như một người.

Nhất là khi người đó vì đất nước, vì tự do của đồng bào. Hy sinh.

Võ Hoàng, ngoài đời, anh sống, như cách sống anh đã phổ nó vào các nhân vật của anh. Lê Thị Huệ, khi đề tựa bài viết của cô. Và chỉ cái tựa bài này, là cái tôi thấy, cô có biết đôi chút về Võ Hoàng.

Nên. Có thể nói, Võ Hoàng là một “ông già Ba Tri,” sống giữa chúng ta.

Cái cách anh ngậm điếu thuốc, thuốc Mỹ đi nữa, nó cũng nhắc chúng ta nhớ đến thuốc vấn. Cái cách anh ngồi hút , làm mình nghĩ là cuối cùng sau khi hút xong anh sẽ dán cái đuôi thuốc vào cột nhà. Đố khỏi!

Cái cách anh ngước nhìn mình qua đôi kiếng cận, làm mình nhớ tới những “soi mói” mỗi khi ông già Ba Tri nhìn mấy cái thằng nhỏ đang ù ơ ví dầu, lùm xùm, vô tích sự bên ông. Có cái xét nét, của bậc trên trước.

Cái “trên trước,” như có đó, của một người “có tuổi.”

Đọc lại những lời Võ Hoàng chia sẻ với chúng ta về ý nghĩ anh có. Với hiện tình đất nước.

Trên Tạp chí Nhân Văn. Một thí dụ, trong mục “Sổ Tay Nhân Văn” số 4, số tháng 10, năm 1982. Với bài viết, “Hạt Bụi Nghiêng Mình,” từ tr. 65 đến tr. 71. Cái “trên trước” của Võ Hoàng, hiển hiện ngay từ lúc anh mượn lời của một trong hai Cụ Phan, Cụ Phan chu Trinh. “Các anh đi vững một bước, Tổ quốc nhờ một bước,” để mở đầu những gì anh muốn bàn bạc với anh em thanh niên, nhất là Sinh viên….

Rồi, với...

“...Bỗng dưng nghĩ tới dăm ba thân phận tương tự ở cái thời bôn ba xứ người mưu tìm cho được con đường giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của thực dân, mà thương vô vàn…”

Như cám cảnh cái thân phận và hoàn cảnh người xưa. So với mình mà “thương vô vàn.”

Võ Hoàng chắc không có thì giờ thương mình. Còn thương cho tiền nhân?

Còn nữa... nhắc nhở cho các (em,) thanh niên, sinh viên,

Trong sử đại để có ý nói : những phần tử Việt ưu tú được ngấm ngầm đưa ra ngoại quốc... mục đích đem những điều đã học hỏi được làm sức mạnh giải thoát dân tộc.

…..

Hoặc giả ,

Cái ân, cái nghĩa, cuộc sống xứ người và kẻ có lòng buộc chắc nịch vào thân phận của con người lưu lạc…

….đừng phí thời giờ hơn nửa, lại có tội. Tội với lịch sử, tội quên ân, tội bội nghĩa, tội với niềm kỳ vọng của năm mươi triệu con người ở bên nhà…

Vậy mà còn không trên trước sao?!!

Cái trên trước, như một tự nhiên, của Võ Hoàng, cũng sẽ có, ít khi qua lời nói, có chăng qua bài viết. Mà Võ Hoàng viết nhiều, vô số.

Tôi có ngay một ví dụ khác. Chẳng đâu xa, ngay truyện ngắn “Khách Thập Phương,” được in trên số đầu tay, Nhân Văn số 1, ra ngày 1 tháng 9 năm 1982. Chỉ là chuyện một vị sư tiếp hai vợ chồng khách viếng chùa. Chùa tị nạn, ở Mỹ. Cái cách vị sư rót trà mời khách. Cái này đã đánh động người đọc Nguyễn Xuân Nghĩa đến độ khi “Nhớ Võ Hoàng,” anh phải nhắc đến. Bởi, ngay chính vị sư, hay Võ Hoàng, cũng chú trọng nó. Rót trà mà, lòng trí chỉ lo là :

“Mình xử đúng phép mà không biết ông này có hiểu cho mình không…” ( tr.19, NV1, đd)

Nói, mà không biết, chứ thực ra đã biết. Chỉ không như ông Út Trà Ôn trong “Tình Anh Bán Chiếu,”

“Tưởng giếng sâu, tôi tết (nối) sợi dây dài.

Ai dè…..giếng cạn. Tôi tiếc hoài sợi dây!”

Hay, “Mình mà còn như vậy, huống chi người ta ….( tr, 22, nt.)

Những thổ lộ như vậy. Chỗ nào có chữ viết của Võ Hoàng, chúng ta cũng tìm thấy hết. Kể cả trong mục Cờ Trận, Ông Cà Nhỏng, Võ Hoàng cũng không chịu thua ai. Nhưng, nhiều nhất, qua ánh mắt nhìn. Dù là lướt qua. Có cái trên trước.

Với Võ Hoàng, tôi nhiều lần thấy cái ánh mắt này, như dò xét. Lượng giá!

Lần gặp nhau như là lần ra mắt, ở nhà in ông Thủy. Một lần.

Lần nữa. Đâu như tại nhà vợ chồng Nguyễn Anh Minh. Tôi nhớ như là lần đóng xếp tập truyện “Măng Đầu Mùa.” Tôi như mọi khi, từ San Francisco lái xuống cùng phụ một tay với anh em. Trong khi các anh em đang làm với nhau, tôi ngồi đọc một truyện ngắn mới của Võ Hoàng, cái chuyện “Đưa Chân” Võ Hoàng cho in trên tập này. Đọc xong, thấm thía với nỗi khó khăn của nhân vật nữ trong truyện. Tôi nhỏ tiếng ngâm nghêu ngao, “Cũng liều nhắm mắt đưa chân,...”

Một cái ngước nhìn, qua cặp kiếng cận. Võ Hoàng, chiếu sang tôi ánh mắt như cân phân... Tôi có cảm tưởng, Võ Hoàng, giờ đã cho tôi điểm vớt, “Thằng cha coi vậy, cũng được...”

Vậy đó. Có những cái liếc nhìn. Thay cho trao đổi.

Ngộ lắm. “bập bập điếu thuốc, hấp háy sau cặp kiếng,”... rồi cũng có người khác nói tới. Sau tui. Mình sẽ nhắc lại sau.

Còn bây giờ. Tôi thú thật, những giây phút đầu tiên gặp nhà văn Võ Hoàng. Tôi không được cái may mắn như những người nói về anh sau này. Họ bắt được “ánh mắt sáng, mà thân tình” của anh trao cho. Như cô Lê Thị Huệ.

Tôi thì, như trên.

Không biết cái thời khắc gặp gỡ, có khác nhau, thì sẽ làm cái nhận xét khác nhau không?

Có khác không? Những nhận xét sau, của những người khen anh như một Kháng Chiến Quân. So với. Vào cái thời khắc rất xa, trước đây, khi tôi được theo chân Tưởng Năng Tiến đến gặp gỡ Võ Hoàng. Để cùng làm báo.

Tôi không thấy mình được nhìn, với cái thân ái đó…, ban đầu! Mà có sự xét nét.

Nhưng nó là cái tự nhiên. Khi chưa biết gì về người trước mặt. Ai lại không phải qua những xét đoán ban đầu. Của người mới gặp. Mà lại gặp để cùng nhau làm việc.

Có lẽ, tôi với cái con người của mình. Tuổi tác, cao hơn hai nhà văn. (Võ Hoàng sanh

năm 52, Tưởng Năng Tiến chắc cũng cỡ vậy thôi.) Lớn hơn mấy “ổng” cả chục tuổi…

Hai nhà văn, người ta đang lo vụ ra báo. Tui, hổng viết lách gì.

Làm gì đây cha?!!

Câu hỏi phải có trong đầu của cả hai ông “em” về cái thằng tui. Với Tưởng Năng Tiến, cái câu “làm gì đây cha nội,” sẽ dễ được nghe. Nếu có.

Với Võ Hoàng, như đã nói. May ra bạn bắt kịp cái tia mắt hấp háy ánh lên sau lớp kiếng cận.

Kín đáo?!

Còn cái cách Võ Hoàng ít nói. Những người khen. Họ khen...

Cô Lê Thị Huệ, người tự nhận mình rập rượng (...) Võ Hoàng im lặng từ đầu đến cuối.

“Anh nhìn tôi rất vui, rất thân mật, rất mừng rỡ, nhưng tuyệt nhiên anh im lặng giữa những câu chòng ghẹo cười đùa nhẹ nhàng của đám đàn ông con trai xôn xao với một đứa con gái rập rượng.”

Bạn tôi, Nguyễn Xuân Nghĩa, nói về Võ Hoàng, trong “Nhớ Võ Hoàng.”

“Anh ít nói, bập bập điếu thuốc sau cặp kính hấp háy, nhưng khi nói là có giọng duyên dáng mà không ác, và làm gì cũng có vẻ như sợ làm phiền người khác. Võ Hoàng là người cực kỳ tài hoa mà lúc nào cũng có vẻ vụng về, nếu ta không để ý thấy đôi mắt rất sáng của anh. Anh nói ít mà hiểu nhiều bên sau cái dáng quê kệch của người mới ra tỉnh. Anh chí tình và tận tụy với trách nhiệm, bất kể lớn nhỏ. Ông Hoàng Cơ Minh sau này trông cậy rất nhiều nơi anh là cũng phải.”

Nói ít mà hiểu nhiều... Nguyễn Xuân Nghĩa nhận xét.

Còn tui. Tui thấy ra cái “mờ ớ” của người mình làm chung việc.

Chú em tôi trốn. Giống hệt như Chú Tư Cầu của Lê Xuyên. Khi Tư Cầu trốn để khỏi phải đối đáp với những trả treo của mấy cô đeo anh (như mấy tên đàn ông, đeo cô Lê Thị Huệ?)

Tư Cầu của Lê Xuyên trốn trong cái “ít nói” của mình. Mặc tình mấy cô tra hỏi, vặn vẹo, nhứt là khi bị vặn vẹo về những cô khác với anh. “Có hay không? anh với mấy con đ. thúi đó?!..”

Thì ra, “thằng nhỏ” nhát đèn. Chú em trốn đối thoại, nói nôm na, trốn nói chuyện. Nhứt là bàn bạc.

Bởi, cái vùng “sông nước chằng chịt,” ngước mắt lên trời le le, mỏ vịt bay đầy. Nhìn xuống, trên mặt nước đầy lá đước khô...

Cái vùng sông nước mà Võ Hoàng sống như bơi lội trong đó, quen thuộc hết mức. Là vậy.

Và , bây giờ…. “Sau cái dáng nhà quê của người mới ra tỉnh…” lại còn… “cực kỳ tài hoa mà có vẻ vụng về…”

Nguyễn Xuân Nghĩa chê hay khen? Võ Hoàng nào mới là Võ Hoàng?

“Tui” mới là người có thể có câu trả lời. Tôi đoan chắc, Nguyễn Xuân Nghĩa khen Võ Hoàng.

Nhưng khen vậy có là bằng mười chửi nhau?

Làm sao khác hơn đây. Những nhận xét của Nguyễn Xuân Nghĩa về Võ Hoàng đều thật.

Cái lấn cấn là cái ở Võ Hoàng những đặc tính con người mà Võ Hoàng chọn cho mình. Mẫu người Sơn Nam. Gò bó, thiếu rộng mở. Nếu không nói là cứ khư khư...như Sơn Nam!

Lại nữa. Vùng đất anh quen thuộc. Không đủ lớn rộng cho công việc sắp tới.

Nhưng, nếu chỉ là nhà văn. Tài hoa và với năng khiếu, cộng thêm những cái đó. Có đủ hết, cho một Võ Hoàng nhà văn.

Đằng này, tụi tui làm báo. Báo văn học, chính trị, lại mang tính đấu tranh, hô hào hết thảy đồng bào, cùng nhau ta về giải phóng toàn dân.

Võ Hoàng không vừa cho cái khuôn mới.

Với vài ba số đầu, ngay như tôi. Chỉ với, cái lớp của một người đọc, không thôi. Tôi đã thấy tờ báo không đáp ứng được (một) người đọc, như tôi.

Tại sao? Tôi khó tánh? Tôi cố tình bắt bẻ?

Thưa không. Chỉ là tôi nghĩ, cái trình độ của người đọc phải được để ý.

Người đọc chúng tôi ở miền Nam, chúng tôi được nuông chiều quen rồi. Lúc nào như cũng được dự vào những bữa ăn ê hề, nhiều, thật nhiều món để chọn lựa. Không cứ phải là canh chua, cá kho tộ, mới là món ngon miền Nam.

Ngay như nhóm Sáng Tạo, hay Bách khoa (?) nơi tập trung các cây viết gốc Bắc.

Doãn Quốc Sỹ, Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo,... Còn có hai nhà văn trong Nam tham gia vào với cái nhóm đó. Sơn Nam và Võ Phiến.

Hai ông nhà văn Nam này, gần như là hai thái cực của nhau. Sơn Nam, khuynh tả, chuộng cổ,.. trong khi Võ Phiến người từ vùng kháng chiến về thành, chống Cộng, hướng về cái mới mẻ, nhìn sự vật với nhãn quan khoa học, chẻ sợi tóc làm tư, làm tám.

Ông Sơn Nam thì ta đã biết. Cái gì cũng muốn gói trọn trong tình nghĩa “Quốc văn Giáo khoa thư,” “Văn minh miệt vườn,” ‘“Hồi nẳm,...” Hay, mượn câu bà Hai Tích bên trên...

“Trời định vậy. ở đây ai cũng vậy; người có của, ai tới xứ này? Trách cha, trách mẹ, trách trời là thêm tội.”

Đối với người Cộng Sản, ông Sơn Nam coi như chỉ có họ, họ là lẽ sống cho ông. Ông sống với chúng ta, viết về những gì... ông vẫn viết. Nên Sơn Nam lúc đó nếu còn được đọc, người ta đọc như đọc ông Hồ biểu Chánh, để nghe người xưa. Biết chuyện cũ.

(Nó không đến nỗi tệ như khi Cộng sản đã cai trị cả nước. Sau này.)

Ông chỉ còn là “long trọng viên,” khi có dịp được hỏi tới với các việc có dính tới những gì được coi là tục xưa, nếp cũ,... của ông bà, làng xóm, và trong dân gian,...thảng hoặc một vài người làm phim cần tới.

Mùa Len Trâu, chẳng hạn.

Chứ Mê Thảo, đã có Nguyễn Tuân.

Nhạc dân tộc đã có nhà “Nhạc học dân tộc,” Giáo sư âm nhạc quốc tế, tham gia việc Đảng từ khi còn hàn vi ở Pháp. Mà nhà nhạc học lại chịu khó “Quần là áo lược.”

Nhìn Giáo sư Trần văn Khê trong y phục có thiết kế, dù hơi diêm dúa. Nhưng cầu kỳ. Không bệ rạc, thường ngày. Kiểu áo sơ mi trắng, bỏ ngoài quần. Lại, quần tây.

Kiểu Sơn Nam, “ở khúc cuối của một con lạch nhỏ, người nhà quê lớn lên,... nghe phong thanh Pháp thua chạy, chưa kịp ngạc nhiên đã phải nằm úp mặt bờ mương tránh bom đạn của những trận đánh mới….” ( Võ Hoàng, “Hạt Bụi Nghiêng Mình” Tạp chí Nhân Văn số 4, trang 66, đd.) Sao bì được! )

Những người Đảng chọn làm đại biểu của “Dân tộc” trình với “bạn bè năm châu thế giới,” hết còn và không tới phiên ông!

Trái lại. Với Võ Phiến. Người đọc càng ngày càng thấy ra ông được độc giả của ông chia sẻ với ông một hiểu biết rộng rãi. Chỉ qua các bài viết ngắn loại tùy bút…..một sở trường của ông, với những nhận xét tinh tế và dí dỏm không ngờ. Ông bao giờ cũng đưa được người đọc ông vào cái gì mới. Cho dù ông bàn chuyện mà ai cũng biết. Bởi ông có cái muốn làm mới. Sáng tạo?

Chống Cộng. Các ông Bắc “di cư” chống khác. Võ Phiến chống Cộng, ông không lo về cái ý thức hệ, cái đối xử tàn tệ với đồng bào, cái làm cùn mằn đời sống của người dân.

Tất cả những cái đó, có, khi có người Cộng Sản. Chúng ta có cách đối phó. Ông chỉ lo. Cái ông lo nhất. Cái tính gian xảo của người Cộng Sản. Chúng ta không cách gì đón đở nổi, cái tính gian xảo của người Cộng Sản!

Khi viết bài “Bắt Trẻ Đồng Xanh,” ông đã chẳng bàn đến bao nhiêu là mưu ma chước quỷ người Cộng Sản đã dùng và qua mặt phía Quốc Gia. Những chuyện cũ, tập kết về Bắc sau hiệp định Genève 1954. Nhưng cắm chốt lại, họ để Lê Duẩn ở lại Nam, tiếp tục sự nghiệp “giải phóng.”

Nhưng chôn vũ khí, đạn dược lại, cho kế hoạch quân sự, tiếp theo.

Nhưng cắm chốt tình cảm lại. Cho cán binh lập gia đình. Biến những người “vợ một đêm” thành những cái cầu phao, mốc nổi, để móc nối sau này. Tình chồng nghĩa vợ qua tay người Cộng Sản. Cho kế hoạch xâm nhập, giải phóng Miền Nam... Lễ Tết thiêng liêng. Mậu Thân, lòng thành của người miền Nam, qua những gian xảo của Cộng Sản. Bắt trẻ đồng xanh. Một chiến dịch xảy ra khắp nước. Mang trẻ trong Nam ra Bắc. Các em, là con tin mà cũng là những mũi nhọn để xâm nhập miền Nam khi cần...

Cũng không thể bỏ qua khi nói đến người đọc chúng tôi, lúc đó đọc ai. Còn có dòng văn học. Sau Tự Lực Văn Đoàn là Sáng Tạo, là Bách khoa, là Trình Bày, là Khởi Hành của một lớp quân nhân trẻ, là những cá nhân Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, là Thế Uyên, rồi Mường Mán, Thảo Trường, Viên Linh,...

Còn có bao nhiêu là khác biệt từ những cá nhân các cây bút. Tôi chỉ mới bàn về cái nhìn của tôi, một độc giả trung bình! Là người đọc. Chúng tôi đã như vậy.

Với các cây viết trước đây. Trong nước, đã có một lớp độc giả. Phải thấy cái mức đó. Vạch đáy. Của bắt đầu. Cho chúng tôi. Những số báo mới mẻ của chúng tôi. Như một báo học trò.

Nhận xét của riêng tôi.

Về chống Cộng.

Nhân Văn với hai nhà văn chống cộng. Rõ ràng.

Họ quyết liệt đến độ không chấp nhận một ai, dù “chiến đấu” mà chỉ ù ơ ví dầu. Họ viết văn, truyện ngắn, truyện dài. Họ viết lời kêu gọi. Rất quyết liệt.

Nhân Văn còn có một cây viết bình luận trẻ người nhưng thật già dặn trong những nhận định về thời cuộc rất “Academic,” đầy tính biên khảo quốc tế. Những bài viết làm nên cái “bề thế” của Nhân Văn, như là một “Tổ chức?!” với những bàn luận thời cuộc khéo chọn đi kèm với những “sinh hoạt Nhân Văn,” ngoài đời,...

Với thời gian. Một Nhân Văn được sự rộng lượng của độc giả. Thành một nhóm anh em có chủ trương, đường lối RIÊNG. Công đầu, phải kể. Các bài viết nghị luận của Thượng Văn. Những bài viết có giá trị, mang theo sự thuyết phục. Nhất là với lớp người Miền Nam cũ….

….

Nhìn lại hai số đầu. Như để làm quen với độc giả.

Và tôi. Để làm quen với anh em tôi.

Cái quyết liệt trong chống những người Cộng Sản. đang cai trị đất nước của những người

anh em chúng tôi. Xem ra. Có.

Nhân Văn số đầu. Nhìn qua Mục lục, tạm được với những nội dung. Ấy là chúng ta đã

nói nó như báo học trò. Nhưng tính chống cộng, có.

Qua số hai. Tôi, tôi ngỡ ngàng.

Là một khác biệt, với số báo đầu.

“Vì cần trang cho số báo kỷ niệm Nguyễn Du nên một số bài đành phải gác lại..chúng

tôi xin chân thành cáo lỗi cùng độc giả và tác giả.”

Có chân thành cáo lỗi không? Hay chỉ là một câu rất sáo, của những người làm báo...

chuyên nghiệp. Và vì sao phải gác lại, để phải chân thành cáo lỗi?

Vấn đề tưởng niệm thi hào Nguyễn Du. Và kêu gọi mọi người cùng nhau về giải thoát

đồng bào khỏi gông cùm Cộng Sản, có ưu tiên nào cho từng cái hay không?

Về mặt làm cho tờ báo thành cơ quan truyền thông dẩn đầu trong trận chiến với người

Cộng Sản trong nước. Bắt buộc chúng tôi phải có cách làm việc khác hơn.

Và phải cởi bỏ cái lớp báo học trò.

Để phải thấy một cái “mờ ớ,” khác.

Hổng phải chỉ riêng cho Chú Oanh. (Tôi sẽ gọi Võ Hoàng bằng cái tên tôi gọi chú, chú Oanh.) Mà là mờ ớ của cả Tưởng Năng Tiến và nhứt là thằng tui. Cả cái mờ ớ của tui.

Cho bỏ cái tật bán cái. Nghĩ, việc đã có anh em lo, thì để họ lo.

Trong ba anh em tui, lúc đó. Có một mình chú Oanh là biết layout, biết sắp trang, biết vẽ vi-nhet,...toàn những cái biết... về làm báo.

Chỉ có chú Oanh, “biết làm báo.”

Đành đoạn để chú “mình ên.” Nếu nói theo lối Tưởng Năng Tiến, thì, tưởng vậy là Tưởng Năng...Thối, chớ Tiến con khỉ gì! Là lỗi lầm của anh em tui.

Để thằng nhỏ mình ên, gồng gánh một mình. Hổng hề hé răng...

Trở về với thực tế. Công việc chú Oanh , Việc đang làm là “layout” cho báo Đại Dân

Tộc , mà nhà in nhận in.

Cái nhà in đi vào “Văn học sử,” mà Lê thị Huệ khi đi mang theo nó bên cô. Lúc cô gặp đám đàn ông của cô ở đó. Khi “mình có ba thằng.” (Tưởng Năng Tiến, HPC, và Võ Hoàng.)

“Chỉ riêng Võ Hoàng im lặng,...”

Cách nói của Lê Thị Huệ dễ làm cho người chưa biết rõ Võ Hoàng, tưởng chàng nhát gái. Tưởng vậy là tưởng bở. Cái vụ nhút nhát này. Có không? Hỏi chàng , như hỏi Tư Cầu.

Nhưng, ít nói. Thì, có, rất ít nói.

Trong lần gặp gỡ lần đầu giữa anh em tôi. Tôi để ý.

Võ Hoàng không bày tỏ. Không phát ngôn. Những cái lẽ ra phải có. Cho một người cầm đầu. Như cái vụ anh em tôi chung tay làm tờ báo. Vụ này, hổng chàng thì ai?

Tôi không nói. Phải rồi. Tiến, để cho Võ Hoàng chủ động. Cũng được đi.

Nhưng, Võ Hoàng!

Rõ ràng, chàng trốn, trốn những cái chàng biết chàng thiếu.

Mà có cách trốn nào hay hơn, bằng cặm cụi trong công việc.

Trong công việc, cái việc chàng làm, cho nhà in, và cho tờ báo của ông chủ báo Hà Túc Đạo, thuở đó. Là cái việc layout. Bao nhiêu lần, ai gặp chàng. Chàng cũng sẽ tiếp khách với cái bận rộn của người đang layout báo.

Không cần hỏi lại Lê Thị Huệ. Tôi biết cô sẽ ngạc nhiên khi nghe tôi nói điều tôi biết khi Võ Hoàng tiếp cô với những tên/thằng đàn ông của cô. Vừa như tiếp chuyện mà vừa như bận rộn.

Chúng tôi, ba thằng, cũng như vậy mà có “quyết định” hình thành tờ báo của anh em!

Nhưng trong công việc, Võ Hoàng để lộ ra bao nhiêu là tài hoa. Võ Hoàng có nhiều “tài vặt,” kể cả tài tán gái!.( Nguyễn Xuân Nghĩa nhìn ra Võ Hoàng ít nói, khi nói, có duyên... e rằng là lúc này!)

Tôi, ở vai trò tôi có với những anh em tôi, không có dịp nghe Võ Hoàng tán gái. Nhưng tôi biết, với số người ái mộ. Chàng phải có tài chớ.

Nhớ hôm thím Hương làm thôi nôi (hay đầy tháng) cháu Nguyên, đứa con út, hôm sau Võ Hoàng lên đường, ngày đó, đang cùng nhau ngồi chờ thím Hương cho lệnh ngồi vào bàn. Thì lại nghe thím, “Nè có em gọi nè.”

Hương vừa nói vừa đưa cái phone cho chú.

Võ Hoàng nhận cái phone, cười cười. Hệt Tư Cầu!

Nói với người ái mộ mình. Tỉnh queo!... Cũng hệt như Tư Cầu.

Võ Hoàng nghệ sĩ, Võ Hoàng nhà văn, Võ Hoàng trầm tỉnh, đằm thắm. Ít nói mà tế nhị,... làm việc gì ra việc đó. Lại chí tình….

Là Võ Hoàng nhà văn. Trước ngày lên đường thành Kháng Chiến Quân.

Còn kháng chiến quân? Nhà văn của chúng ta có gì mà nhìn lại, mình biết được, sao chàng chọn nó?

Và chỉ có nó? Cho chọn lựa.

Chúng ta nhớ đến người kháng chiến quân trong văn chương Võ Hoàng, được Võ Hoàng nhắc tới. Chỉ một lần. Là lần của “Lạch Đước” này.

Là hình ảnh của nhân vật tên Hòa, (như) là cháu họ của ông Lược, ba của cô bé Bình.

Anh Hòa, người kháng chiến quân, không hiển hiện, không chính thức lên tiếng cho vai trò của mình.

Có chăng. Trong trí tưởng chúng ta.

Hình ảnh người kháng chiến quân mà mọi người. Phải, mọi người dân miền Nam, chúng ta có họ, với chúng ta. Trong trí tưởng.

Cùng cái cách mà ông Lược, nghĩ lung lắm, mới nghĩ ra. Với nhiều gởi gắm, nhiều trao gởi!

*

Ông Lược lầm bầm rồi lần tay lôi bịch thuốc vấn. Ông bật lửa, ánh sáng chỉ lan ra được tới hai đầu chiếc xuồng, lọt một ít vô bụi đước bên cạnh, lập lòe.

“Thằng cha Phương lò than biểu là từ đầu con lạch vô tới đám dừa cháy, bơi xuồng chừng ít tiếng đồng hồ mà sao mình bơi cả nửa ngày chưa thấy. Mình có đi lộn rạch hông?” Ông Lược thắc mắc quá. “Cha Phương lò than thì nhứt định là hổng nói dóc. Hai thằng con trai của chả đi lính Quốc Gia hy sinh hết mà!”

Ông Lược mường tượng lại điệu bộ thằng cha Phương nào đó, hấp tấp, úp úp mở mở, cà kê nửa ngày trời mới dám nói hết cái tin nhắn của thằng Hòa, thằng cháu họ, ba con Bình. “Cỡ này mấy ổng đỡ khổ hơn hồi trước rồi. Đông người, giúp đỡ, che chở với nhau. Cậu Hòa được anh em thương lắm. Cậu nhắn thế nào ông cũng tìm cách đưa con Bình vô đó một lần.”

*

Bắt đầu bằng cái tin nhắn. Của một thằng cha P. nào đó. Úp úp mở mở. Nhưng tin được. “Hai thằng con trai của chả đi lính Quốc Gia hy sinh hết mà!”

Rồi cái lời nhắn. Bao nhiêu đó. Đủ để thấy người ta, sẽ “tin” Kháng Chiến Quân có thật.

“Cỡ này mấy ổng đỡ khổ hơn hồi trước rồi. Đông người, giúp đỡ, che chở với nhau. Cậu Hòa được anh em thương lắm. Cậu nhắn thế nào ông cũng tìm cách đưa con Bình vô đó một lần.”

Còn gì nữa mà nói mình hổng tin. Cả nước muốn tin như thế. Người Kháng Chiến Quân có đó.

Chỉ trong trí tưởng của mọi người!

Nên. Dù Võ Hoàng được biết là người có sự tinh tế trong nhận biết. Nhà văn bó tay, trong cái nhìn về người Kháng Chiến Quân. Không một hình ảnh.

Nói về Kháng Chiến. Vắng bóng người Kháng Chiến Quân. Không có họ. Làm sao có Kháng Chiến!

Đây không phải chỉ là cái “mờ ớ” khác của Võ Hoàng. Nó là của chung hết mọi người chúng ta. Cả nước đều Mờ Ớ. Về người Kháng Chiến Quân ( KCQ! )

Có điều, chúng ta không gặp mặt người KCQ. Nhưng cái gì làm thành người đó. Chúng ta biết. Hay tưởng là biết.

*

Ba nó đi biệt luôn không về nữa kể từ lúc quân đội Cách Mạng tràn vô chiếm đóng hết làng xã. Năm đầu tiên, hai ông cháu chờ tin ở ngoại quốc. Năm thứ hai cũng chờ, rồi chờ cho tới mấy năm nay. Lần lần ông Lược rán tránh không nhắc tới ba con Bình trước mặt nó nữa. Thỉnh thoảng con nhỏ có hỏi, ông nói trớ đi liền, “Ba mầy ở xa, chắc có vợ khác rồi, mầy nhắc tới gì nữa, nó quên mầy rồi!” Ông biết, đơn vị ba con Bình cái ngày gần cuối cùng thì đương đóng ở Vị Thanh, Chương Thiện, lúc đó đâu có đánh nhau, miệt dưới này thì yên lắm mà. “Nó hổng ở ngoại quốc, là nó ở trỏng. Thì coi như nó đương ở xa vậy mà, ở đâu cũng vậy!”

Mấy năm trước, nghe đâu khoảng từ Giồng Riềng, Sóc Ven đổ xuống, nhà nước bắt được ba bốn người ngụy quân sống trong rừng không chịu ra trình diện đăng ký, ông hỏi thiệt kỹ cho tới khi biết được không phải là ba con Bình mới thấy yên lòng. Má nó chết bấy nát mình mẩy, hổng lẽ trời khiến ba nó bị xử tử nữa sao!

“Mầy nhớ ba mầy hông Bình?”

“Ba con đương ở đâu?”

“Còn ở xa lắm, mà điều thế nào thì ba mầy cũng dìa.”

“Mình đi thăm được hông ông chú?”

“Được.” Ông Lược gật gù. “Mà điều xa lắm. Để thủng thỉnh rồi hãy tính. Tao cũng chưa biết chỗ đàng hoàng nữa mà. Ba mầy thương mầy lắm, nghe Bình. Chắc nó hổng có vợ khác đâu. Tao nghe phong phanh nó rán làm ăn, dành dụm để mai mốt dìa quê được thì cất nhà, làm ruộng. Nó phải mua xi măng xây mả cho má mầy nữa mà. Chà, nó ở xa vậy đó chớ nó biết mình dìa vàm Ông Đốc hồi nào nữa nghe hông. Nó tốt lắm, nó thương mầy lắm. Ai nó cũng thương…”

… Rồi ông nghĩ tới thằng cháu. Mai này, may mà gặp nó, mừng kể làm sao cho hết.

“Mình quí nó ở cái chỗ nó dám làm cái việc mình cũng muốn làm mà sợ khó, sợ cực. Mình năm nay chưa được năm chục mà. Thằng, hồi trước thấy nó lầm lầm lì lì mà coi cũng tốt. Thà là sống như nó, mới đáng là sống. Còn đám bạn của nó nữa, chắc tụi nó đứa nào cũng dễ thương lắm. Ngày mai nhắm được, mình để con Bình lại cho ba nó, rồi trở ra ngoải. Coi, tiếp cho tụi nó được chút nào hay chút nấy.”

*

Những cái cần có cho một KCQ, ông Lược đã thay lời hết thảy mọi người. Nói lên.

Nó, những cái đó, có phải là động cơ. Thúc đẩy người nào có nó. Sẽ từ một người thường, thành người Kháng chiến quân. Nếu muốn.

Với,

Chỉ còn cần có thêm một khẩu súng trong tay. Mặt đối mặt với quân thù.

Như một chọn lựa. Giản dị.

Người Kháng Chiến Quân Võ Hoàng. “Thà là sống như nó, mới đáng là sống.”

Chỉ cần một vị thế của Kháng Chiến Quân... để Võ Hoàng nhà văn, vẽ lại hình ảnh một Kháng Chiến Quân.

Bây giờ có thật. Không qua nhân vật. Mà bằng chính sinh mạng mình. Mạng sống của đời mình!

Nên, khi đi hành lý mang theo,...

Nào phải chỉ có “quyển thơ Nguyễn Trãi và hình vợ con,” (2)

Còn cái quyết tâm thành người Kháng chiến quân.

Để thực tế còn có chỗ bổ sung những cái cần, mà người Kháng Chiến Quân thật, ngoài đời, phải có, cho những đáp ứng để kịp với thời thế mới.

“Cách mạng đường dài. Người đi như con nước miệt mài,...” (3)

Lời hát bài ca mà KCQ Võ Hoàng sáng tác trong khu chiến để các chiến hữu của “anh” hát với anh trong đó. (Từ ý niệm,”Thế kỷ này, thế kỷ của chúng ta” khi anh em Nhân Văn không chịu được cái yếu đuối của “lũ chúng ta sinh nhầm thế kỷ” mà có.) Bài hát này, đâu đó, chỗ khác, cũng có người hát. Khi N.A.M., B.Q.K. cày cục tập cho các anh chị em.

Người đi như con nước miệt mài,...như con nước miệt mài,...miệt mài…

(Mẹ! Nhớ quá! “Cái thằng mờ ớ!”... Giỗ 28 tháng Tám!...)

Lý Khánh Hồng
Viết cho những ngày 28 tháng Tám,...
Và cho các cháu Kha, Quân , Nguyên.

 

Chú thích:

(1) Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau, “Một cuộc biển dâu.” tr. 94-97

(2) Thơ Bắc Phong

(3) “Thế kỷ này, thế kỷ của chúng ta,” Võ Hoàng, nhạc kháng chiến.






Lạch Đước

Truyện VÕ HOÀNG

“Chiều gần hết rồi à nghe không Bình,” ông Lược nói chầm chậm. “Mầy phải tiếp với tao, bơi cho nó mau tới, để chút xíu nữa bớt gió một cái, muỗi nó mần thịt mình cấp kỳ.”

Con Bình uể oải với tay kéo cái dầm mà hai con mắt ngó ở đâu đâu. Nó thọc cái dầm xuống nước, lẩy nhè nhẹ, làm như không hay rằng mình đang lẩy dầm. Ông Lược cằn nhằn:

“Mầy ba trợn vừa vừa thôi nghe Bình. Mần cái gì mà lẩy ngược, lẩy ngược không vậy?”

Con Bình giật mình đưa dầm lên cao, trườn người tới đàng trước cắm dầm xuống, rán kéo một cái. Nó biết, nó kéo lấy có chớ thiệt tình cái sức của nó, kéo còn chậm hơn trớn đi của chiếc xuồng. Từ xế tới giờ này, ba hồi nó ngồi xếp bằng, ba hồi nó thòng chân xuống nước và lúc nào cũng ngó hai bên lạch. Bắt đầu từ ngã ba đầu tiên quẹo vô đây, nó thấy cảnh vật âm u mà kỳ cục quá. Thiệt hồi nào tới giờ, nó tưởng con sông rộng thênh thang, suông đuột như từ ngoài vàm vô xóm nhà vậy thôi, ai dè càng đi sâu vô, rồi lọt qua con lạch này, thấy ghê quá. Nó quay ngược về ông Lược:

“Chừng nào mới tới lận, ông chú?”

“Mầy hỏi hoài vậy mầy. Chút nữa!”

“Hồi trưa ông chú nói còn một chút, bây giờ cũng một chút. Tối rồi!”

“Ừ… Tối rồi. Chút nữa tới mà.”

Gió chưa bớt mà muỗi rừng bay theo xuồng từng đám thiếu điều đóng thành cục trên đầu hai người. Ông Lược ngậm hai hàm răng cứng lại, cúi mình rán bơi thiệt mau. Chiếc xuồng ba lá chút chút ngóc đầu cao lên rồi sấn tới rào rào. Trong lạch không có lục bình thành ra cũng khoẻ hai con mắt, cứ nhắm chừng mà phóng tới.

Qua gần hết mùa nắng, trên mặt nước nổi đầy lá đước khô, không vàng mà có màu tím sậm.

Xuồng đi tới đâu, nổi sóng tới đó. Những lá đước bị nước tràn lên mặt, mất màu rồi nhấp nhô ít cái, chìm lỉm. “Đường này ít người qua lại lắm,” ông Lược nghĩ. “Kể ra mình đi như vậy cũng liều mạng. Đêm tối mà lạc đường một cái thì chết thiệt chớ hổng phải chuyện chơi đâu.” Ông tằng hắng mấy tiếng rồi nói nhỏ:

“Mầy phải nhúc nhích hoài hoài mới được, nghe Bình. Ngồi một chỗ muỗi nó cắn mầy rán chịu.”

Con Bình không trả lời, mắt ngó về một bên lạch. Trời càng lúc càng tối, mà tối lẹ quá. Những bóng cây lúc này không còn hiện rõ nữa. Khoảng trời đàng xa cũng gần tiệp với màu nước. Nó biết không bao lâu nữa là hết thấy đường đi. “Để coi ông chú làm sao cho biết.”

Lâu lâu, một con chôm chôm chạy xoẹt ngang qua mũi xuồng, không còn ánh sáng để thấy được hàng vòng tròn lớn nhỏ theo chân con vật, chỉ thoáng một cái là mất hút. Con Bình bỏ dầm, ngồi quay lại đàng sau, cổ nó rút lại. Trời hơi lạnh rồi.

Ông Lược im lặng bơi, mà thiệt tình ông rối trong ruột. “Gần hết thấy đường rồi mà chưa ngang qua đám dừa nước cháy, hổng chừng đêm nay hết ngủ được với đám muỗi rừng này. Mà đi hổng tới thì cứ ấm ức trong bụng, chịu gì nổi.”

“Mầy tát bớt nước rồi lót ít miếng vạc lấy cái đệm trùm lại đi, Bình. Có ngủ thì ngủ, chừng nào tới, tao kêu mầy dậy.”

“Kệ. Chút nữa tới, con ngồi như vầy cũng được mà.”

“Ừ… Chút nữa tới. Tát nước đi.”

Con Bình ngồi chồm hổm nhích lần tới khoảng giữa xuồng, rà tay xuống những ngăn nước đọng rút lên được cái gáo dừa tròn vo rồi múc từng gáo tạt ra ngoài. Nó hỏi:

“Lạch này đi dìa tới Đầm Dơi chỗ ngoại con ở lận phải hông ông chú?”

“Đâu có. Đầm Dơi với đây xa biệt ngàn, có bơi cả tháng mới tới. Ở trong này hổng phải là cái gì hết. Chưa có tên.”

“Phải chi mình đi ngoài sông lớn, thế nào cũng có gặp nhà người ta, hỏi thăm.”

“Ừ… Ngoài sông lớn, đi hoài thì tới Thới Bình. Mà mình đâu có đi Thới Bình.”

“Vậy chớ ông chú đi đâu?”

“Thì đi vô đây!” Ông Lược gắt.

Dường như thấy mình vô lý quá, ông xuôi dầm cập sát be xuồng, nói từ từ:

“Ông chú đi tới nhà một người quen mấy năm nay chưa gặp lại. Hỏi thăm, người ta chỉ phải đi đường này. Mà sao tới bây giờ chưa thấy đám dừa nước cháy.”

“Mình tới đâu vậy ông chú?”

“Chưa tới đám dừa nước. Chỗ này có tên gì đâu mà nói. Mầy kêu Lạch Đước cho rồi đi.”

Con Bình thôi không hỏi nữa. Nó quăng gáo dừa, lót hai tấm vạc lớn rồi trở ra trước mũi kéo lên cuốn đệm lạt, mở dây, chêm một phần dưới đít rồi cứ ngồi thừ ra. Nó hết muốn biết lúc này ông cháu nó đang ở đâu và sẽ đi tới đâu. Đêm nay chắc cũng như đêm hôm qua, trời không có trăng, khỏi phải ngó thấy cây cối âm u, trời nước chập chờn. “Chút nữa quấn tấm đệm, ngủ một giấc là yên chuyện.”

“Mầy nghe hông Bình. Tao ngưng tay dầm một chút là muỗi nó dậy liền đó thấy hông. Chèn ơi, nó bay, nghe mà rởn ốc.”

Con Bình nãy giờ lo ra chớ cũng phải phủi liền tay. Nó vừa kéo tấm đệm phủ lên mình, vừa ầm ừ:

“Có nghe, có nghe.”

Ông Lược tiếp tục bơi. Đước càng lúc càng nhiều thêm rồi con lạch càng lúc càng như nhỏ tóp lại không biết vì ông cháu mỗi lúc mỗi đi sâu hơn hay vì bóng tối mỗi lúc một dầy hơn. Ông biết mình có rán lắm thì cũng tàn một hai điếu thuốc nữa thì hết, chắc phải đậu lại mà chịu. “Bữa nay bây nhiêu rồi? Hăm lăm hăm sáu gì đó chắc, phải đợi tới hừng trời.” Ông tự trách mình hấp tấp, nông nổi quá, rồi làm khổ lây cho con Bình. Phải chi hồi sáng, ông chịu khó thức dậy thiệt sớm “giờ này tệ gì cũng tới đám dừa cháy, mà cũng hổng chừng gặp được tụi nó rồi. Để coi, từ ngoài vàm vô thì có tùm lum lạch, mà cái lạch tàu chìm thì mình đi trúng phóc rồi chớ đâu có trật!”

Cái nôn nóng của cả ngày lần lần tan mất lúc nào không biết. Ông Lược chợt cảm thấy buổi tối ở đây ghê quá. Cũng may, mùa này nắng ráo, mấy con ve sành bắt đầu từ chạng vạng đã kêu rả rích, đỡ thấy âm u. Ông áp sát dầm vô đùi, rồi lẩy ra một cái nhẹ, chiếc xuồng bê ngang qua đưa lái tới đúng tầm với. “Chịu thua, cột lại ở đây, chờ thấy đường mới tính được,” ông nghĩ.

Xuồng bị sốc một cái rồi sựng. Con Bình ngóc dậy liền:

“Hổng đi nữa hả ông chú?”

“Đâu có thấy đường nữa mà đi.”

“Vậy là phải đợi tới sáng mới đi được, hả ông chú?”

“Ừa, sáng mới đi được. Mầy trùm lại mà ngủ đi. Chắc tao cũng ngủ.”

“Con chưa buồn ngủ. Mà sao cái nhà ông gì đó, ở đâu tuốt trong này. Phải ông chú bỏ con ở nhà cho khoẻ.”

“Tao đi mình ênh tao cũng buồn. Mầy có đói bụng hông?”

“Hông.”

“Còn đồ ăn, ngày mơi đủ hông?”

“Dư sức! Cả đống.”

Ông Lược xếp lại cây dầm cho xuôi theo be xuồng rồi lom khom bò về khoang lồng. Ông với tay lót thêm ít tấm vạc rồi ngồi ngay xuống kế con Bình, vỗ đầu nó:

“Mầy hổng muốn đi sao hồi sáng mầy hổng nói.”

Con Bình nín thinh, nó nằm nghiêng qua tung mí đệm còn lại lên mình ông Lược.

“Trời tối thiệt rồi!”

Ông Lược lầm bầm rồi lần tay lôi bịch thuốc vấn. Ông bật lửa, ánh sáng chỉ lan ra được tới hai đầu chiếc xuồng, lọt một ít vô bụi đước bên cạnh, lập lòe.

“Thằng cha Phương lò than biểu là từ đầu con lạch vô tới đám dừa cháy, bơi xuồng chừng ít tiếng đồng hồ mà sao mình bơi cả nửa ngày chưa thấy. Mình có đi lộn rạch hông?” Ông Lược thắc mắc quá. “Cha Phương lò than thì nhứt định là hổng nói dóc. Hai thằng con trai của chả đi lính Quốc Gia hy sinh hết mà!”

Ông Lược mường tượng lại điệu bộ thằng cha Phương nào đó, hấp tấp, úp úp mở mở, cà kê nửa ngày trời mới dám nói hết cái tin nhắn của thằng Hòa, thằng cháu họ, ba con Bình. “Cỡ này mấy ổng đỡ khổ hơn hồi trước rồi. Đông người, giúp đỡ, che chở với nhau. Cậu Hòa được anh em thương lắm. Cậu nhắn thế nào ông cũng tìm cách đưa con Bình vô đó một lần.”

Con Bình sáu bảy tuổi thì thêm một tai họa nữa xảy đến cho nó. Lần này thì hết nước. Ba nó đi biệt luôn không về nữa kể từ lúc quân đội Cách Mạng tràn vô chiếm đóng hết làng xã. Ông dắt díu con cháu bỏ Năm Căn về dựng chòi ở cái xóm gần vàm Ông Đốc này sống lây lất qua ngày.

“Bên ngoại mầy cũng đâu còn ai lo cho mầy nổi. Dìa ngoài đó, tao làm ruộng tao nuôi mầy. Chắc mai mốt ba mầy cũng dìa, như người ta.” Năm đầu tiên, hai ông cháu chờ tin ở ngoại quốc. Năm thứ hai cũng chờ, rồi chờ cho tới mấy năm nay. Lần lần ông Lược rán tránh không nhắc tới ba con Bình trước mặt nó nữa. Thỉnh thoảng con nhỏ có hỏi, ông nói trớ đi liền, “Ba mầy ở xa, chắc có vợ khác rồi, mầy nhắc tới gì nữa, nó quên mầy rồi!” Ông biết, đơn vị ba con Bình cái ngày gần cuối cùng thì đương đóng ở Vị Thanh, Chương Thiện, lúc đó đâu có đánh nhau, miệt dưới này thì yên lắm mà. “Nó hổng ở ngoại quốc, là nó ở trỏng. Thì coi như nó đương ở xa vậy mà, ở đâu cũng vậy!” Mấy năm trước, nghe đâu khoảng từ Giồng Riềng, Sóc Ven đổ xuống, nhà nước bắt được ba bốn người ngụy quân sống trong rừng không chịu ra trình diện đăng ký, ông hỏi thiệt kỹ cho tới khi biết được không phải là ba con Bình mới thấy yên lòng. “Má nó chết bấy nát mình mẩy, hổng lẽ trời khiến ba nó bị xử tử nữa sao!”

Ông Lược tung mí đệm vấn thêm điếu thuốc nữa, ông vừa lập bập đốt vừa hỏi nhỏ:

“Mầy ngủ chưa Bình?”

“Muỗi quá xá, nó bay ì ì. Con Bình lăn trở mặt về phía ông Lược. Ông chú tung đệm ra, chút xíu muỗi nó vô nghẹt trong này hết, chịu sao nổi.”

“Mầy rán chịu, chút nữa tao un khói thuốc, nó trồi ra hết.”

Con Bình lòn tay dở lưng gãi sồn sột, nó cằn nhằn:

“Tấm nệm ỉ nước, ngứa lưng thấy bà!”

“Ừa, rán chút nữa, sáng, mình đi tiếp.”

“Ông chú thì lần nào cũng chút nữa, chút nữa. Chắc hổng ngủ được đêm nay đâu.”

Rồi nó lăn trở mặt qua bên kia. Ông Lược im lặng hút thuốc. Tự nhiên ông muốn nói chuyện với con Bình về ba nó, ông ngần ngừ một chút rồi hỏi:

“Mầy nhớ ba mầy hông Bình?”

“Ba con đương ở đâu?”

“Còn ở xa lắm, mà điều thế nào thì ba mầy cũng dìa.”

“Mình đi thăm được hông ông chú?”

“Được.” Ông Lược gật gù. “Mà điều xa lắm. Để thủng thỉnh rồi hãy tính. Tao cũng chưa biết chỗ đàng hoàng nữa mà. Ba mầy thương mầy lắm, nghe Bình. Chắc nó hổng có vợ khác đâu. Tao nghe phong phanh nó rán làm ăn, dành dụm để mai mốt dìa quê được thì cất nhà, làm ruộng.

Nó phải mua xi măng xây mả cho má mầy nữa mà. Chà, nó ở xa vậy đó chớ nó biết mình dìa vàm Ông Đốc hồi nào nữa nghe hông. Nó tốt lắm, nó thương mầy lắm. Ai nó cũng thương…”

Con Bình im lặng nghe. Ông Lược nói xong thì cũng im lặng. Ông chờ con nhỏ hỏi một ít câu hỏi như thường lệ mỗi khi nhắc tới ba nó. Vậy mà con nhỏ nín thinh.

Đêm ở rừng, tuốt trong ngọn con lạch này, buồn thiệt. Ông Lược hất tàn thuốc xuống lạch, kêu cái bẹp.

Đột nhiên con Bình lên tiếng:

“Cái ông gì quen với ông chú đó, ổng làm gì trong này?”

“Ai biết đâu, lâu quá rồi ông chú chưa gặp lại. Hổng chừng ông đốt than.”

“Ở trong này buồn chết, hén ông chú?”

“Ừa, buồn lắm!”

“Ngộ! Tự nhiên cái sông lớn mênh mông rồi có con lạch nhỏ ăn tuốt vô trong này,” con Bình nói như nói một mình. “Chà, lạch đước.”

“Ừa. Thói thường là như vậy đó. Nhiều con lạch như thế này chớ hổng phải một đâu nghe.

Nước ở trên ngọn theo giòng lạch đổ xuống nhiều ngả, ra tới sông mới thành giòng lớn được.

Mùa nước, nó tuôn ra biển ầm ầm như thác chớ hổng phải chơi đâu.”

Ông muốn nói nhiều nữa nhưng sợ con Bình không hiểu được rồi đâm ra không vui, nên khỏa lấp:

“Có nhiều con lạch như vầy lắm, chớ hổng phải một cái này đâu. Hổng phải một cái lạch đước này thôi đâu.”

Rồi ông bỏ bộ nằm xuống, kéo mí đệm đắp sát qua bên ngoài. Trời đất tối hoàn toàn, thành ra như minh mông vô tận. “Chiếc xuồng chật quá!”

Lúc mà người thôi nói chuyện thì dường như muỗi kêu lớn hơn. Ông Lược cảm thấy khó chịu.

Ông chống bàn tay đẩy tấm đệm lên làm một khoảng trống lớn bên trong rồi quay vô, mở mắt nhìn vào bóng tối. Con Bình chút chút thì cựa quậy hai bàn chân, chút chút thì lòn tay gãi lưng.

Chắc nó rán dỗ giấc ngủ để bớt phải khó chịu.

Càng về khuya, trời làm như có vẻ càng nóng. Ông Lược biết mình không thể ngủ được lúc này, ông không thèm nhắm mắt, nằm nghĩ bâng quơ. Ông nghĩ tới thằng cha Phương lò than.

Ông nghĩ tới miếng đất ở nhà, làm bốn năm mùa rồi mà cũng còn nhiều phèn quá, không biết tới bao giờ huê lợi mới đủ ăn. Ông nghĩ tới má con Bình, “nó nghe lời người ta đi lòn lỏi vô tuốt trong bưng bắt mối cá đồng. Đã nói là mấy chỗ đó nguy hiểm lắm mà hổng nghe. Mìn bẫy người ra giăng tứ hướng biết ở đâu mà tránh.” Rồi ông nghĩ tới thằng cháu. Mai này, may mà gặp nó, mừng kể làm sao cho hết. “Mình quí nó ở cái chỗ nó dám làm cái việc mình cũng muốn làm mà sợ khó, sợ cực. Mình năm nay chưa được năm chục mà. Thằng, hồi trước thấy nó lầm lầm lì lì mà coi cũng tốt. Thà là sống như nó, mới đáng là sống. Còn đám bạn của nó nữa, chắc tụi nó đứa nào cũng dễ thương lắm. Ngày mai nhắm được, mình để con Bình lại cho ba nó, rồi trở ra ngoải. Coi, tiếp cho tụi nó được chút nào hay chút nấy.”

Nghĩ tới người một hồi, ông xoay qua nghĩ tới mình. Cũng hên, trời phú cho ông cái tánh ít chịu ràng buộc thành ra tới buổi này, không dính líu tới ai nữa kể từ khi bà vợ bị rắn cắn chết. “Mình hổng có con, nhờ con Bình một bên mấy năm nay hủ hỉ, cũng đỡ.”

Con nhỏ chắc chưa ngủ, lâu lâu nó nhúc nhích, cục cựa qua lại. Nó nằm thẳng người, hai tay ôm vòng trước ngực. Trong bóng tối, ông Lược biết một giò con nhỏ kê hờ hững lên đùi ông, nóng hổi. Hơi thở con Bình chưa đều, tấm đệm đè thân ngực lên xuống vô chừng. Ông Lược chợt khám phá ra, bữa nay, con này cũng đã có bề ngang như người ta rồi. “Nó tới tuổi trổ mã mà, tuổi Ngọ, tuổi Mùi còn nhỏ nhoi gì nữa!” Ông hớt hải ngồi bật dậy không kịp xô cái chân con Bình ra. Con nhỏ vẫn nằm im.

Trong tối, ông Lược lại mò mẫm vấn thuốc. Ông sửa lại thế ngồi, kéo mí đệm lên sát cần cổ rồi mới bật lửa. Sau một hơi thuốc, ông nhỏ giọng:

“Mầy ngủ chưa Bình?”

Con nhỏ vẫn nằm im.

(Trong Lòng Cách Mạng, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983)

SPONSORED LINKS - LIÊN KẾT TÀI TRỢ

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

Advertising