Friday, 02/10/2020 - 05:37:55

Vài kỷ niệm với trường Lê Bảo Tịnh



Bài CHU TẤT TIẾN

Năm 1956, sau khi di cư được hơn một năm, ở hết Bình Đông, dông qua Vườn Lài, lại tới Khánh Hội, mẹ tôi mua được căn nhà trong hẻm Trương Minh Giảng, gọi là Xóm Vườn Xoài, ngõ nhà tôi đối diện ngay với nhà thờ Vườn Xoài cũ, nhà tôi số 476/4. Ngay tại đầu hẻm 476 này, hồn ma của ca sĩ D.A. đã nhập vào một xác con gái nào đó, mặc áo đỏ, quần trắng, đi guốc trắng, xắn tay áo, đứng chờ tôi ở đây, lúc 8 giờ 5 phút sáng, một Chủ Nhật mùa hè, năm 1962. (Chuyện hồn ma có thật này đã viết trong truyện Cầu Cơ và đăng báo ở Cali).

Hẻm 476 này tương đối ngắn, nếu đi thẳng vào thì chỉ qua 4 căn nhà bên tay trái, rồi quẹo vào, là thấy nhà tôi ở ngay trung tâm hẻm, mặt tiền nằm ngang, nhìn thẳng ra đầu ngõ. Bên phải của nhà tôi, là một ngôi nhà khang trang hơn, rộng và dài hơn, là một gia đình sau này thành công lớn về mọi phương diện, sĩ quan Võ Bị cao cấp, phó tỉnh trưởng, dược sĩ, và một phu nhân của một sĩ quan Võ Bị Đà Lạt cũng cao cấp luôn.

Đi sâu vào trong, sát phía sau nhà tôi nhà của Bác Sáu Cảnh sát, có mấy cô con gái đẹp mê hồn, như Tây Lai, hồi đó tôi mê mẩn nhìn ngó, nhưng vì Bác Sáu, ba của mấy cô bé dữ quá, hay hầm hầm nhìn tôi làm tôi ớn, hết dám nằm mơ.

Bên tay trái của hẻm, ngang với nhà tôi là nhà một bà, không biết bao nhiêu tuổi, mà mỗi chiều, ra ngồi cạnh giếng, tắm trần, lộ ra hai cái vú lép tòng teng như hai quả mướp khô. Quẹo sang trái là con đường hẻm ngoằn ngoèo dẫn sang hẻm bên cạnh, 477 gì đó. Hẻm này dẫn vào một khu rất lớn vài chục căn nhà, sau đó bị hỏa hoạn. Điều lạ lùng là sau khi hỏa hoạn, khu này bỗng được xây cất lại, khang trang toàn nhà lầu.

Trở lại với nhà tôi. Trước mặt nhà là một cái sân rộng, có rào kẽm gai và trong đó có một cây xoài duy nhất tượng trưng cho cả xóm hai bên đường Trương Minh Giảng. Cả khu gọi là Vườn Xoài mà chỉ có mỗi nhà tôi có cây xoài thôi, điều này làm tôi rất hãnh diện. Vườn trước cửa nhà tôi, rộng khoảng chừng 10 x 15 mét, mẹ tôi trồng đủ thứ, lúc thì trồng hoa huệ để đem bán ngoài chợ, lúc lại phá đi, trồng trầu không! Lúc khác lại biến thành vườn hoa dong đỏ.

Loại hoa này có lá rất to mầu xanh có tia hồng hồng cuốn quanh môt thân mềm, trên ngọn là những bông hoa dong như loa kèn, mà tôi thường húp nước sương đọng trong nhụy hoa, ngọt vô cùng. Cây dong này cho lá dong để gói bánh. Thất bại trong nghề trồng trọt, mẹ tôi phá banh cả vườn, để lại từng luống đất lổn nhổn. Rồi mẹ tôi đổi sang làm bánh quế. Bà bắt mấy chị em tôi xay bột, trộn mầu rồi đổ vào trong cái thau nhôm khổng lồ, bà múc từng muỗng bột đổ vào cái khuôn rồi nướng cho vừa phải, lột ra, cuốn vào cái ống, lại nướng cho tới khi thành cái bánh quế, bỏ vào hộp, đưa tụi tôi đạp xe đạp đem giao cho các tiệm bánh, kỳ công vô cùng.

Tại khu Vườn Xoài này mà 3 chị em tôi được đi học trường Lê Bảo Tịnh ở gần ngã tư Trương Minh Giảng và Trương Tấn Bửu, hồi đó sân trường còn trải đá răm, sau mới đổ xi măng. Năm đó, hai chị tôi học đệ Lục, tôi học đệ Thất. Trường được xây cất bởi Cha Trịnh Việt Yên, người có nhiều bằng cấp nhất Saigon thời đó, hai, ba cái Tiến Sĩ của Thụy Sĩ, Pháp, Rôma… Trường xây trong một con đường nhỏ mà hai xe nhà binh tránh nhau thoải mái. Nhà của Cha Giám Đốc cũng ở trên cùng con đường này, đi bộ chừng ba phút là đến. Cổng vào nhà Cha luôn luôn đóng, để một số Thầy đang tu ngụ ở đấy: Thầy Cửu (sau này làm Linh Mục rất nổi tiếng ở Roma), Thầy Dậu, Thầy Vinh (sau làm Giám Mục ở Paris), và Thầy Oánh. Tôi nhớ mãi Thầy Cửu, người đậm đà, mặc áo chùng đen, dậy Toán hay số một, nhưng nóng tính.

Một hôm, Thầy đang giảng toán cho mấy chị lớn ở cuối lớp, thì ở trên này, nhóm 5, 6 thằng nhóc tôi ngồi đầu bàn lớp đệ Thất, cười dỡn tưng bừng. Thầy nổi nóng, bước nhanh lên, thấy thằng Tuấn đang cười, Thầy vung cây thước bảng dài quất vào sau gáy nó một cái, nó gục xuống bàn, gần như bất tỉnh. Thầy hối hận, lại xoa đầu nó, dỗ dành, nhưng nó hận Thầy cho đến lúc bỏ trường đi học nơi khác. (Sau này đi Thủ Đức, lên đến Thiếu Úy thì bị cụt tay tại mặt trận.) Ngồi cạnh tôi là Năng, Cương, Sĩ, Tuấn. Bàn dưới là Thạc, Thọ…(Cương sau này là Giáo Sư Toán nổi tiếng ở Saigon, Năng thì ba gai, bỏ học sau khi rớt Tú Tài. Sau 1975, Năng tham gia cách mạng, chống Cộng, bị tù 8 năm, cùng nhóm mà có hai người bị tử hình.)

Cuối lớp là Ngọc, Phú, Phùng (Phùng tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa, ban Anh Văn, sau làm hiệu trưởng một trường chuyên dậy Anh Văn, đông con gái vô cùng). Thằng mà tôi nhớ nhất lại là thằng chuyên ăn hiếp đám nhỏ con như tôi: Võ Công Tồn. Sở dĩ tôi nhớ thằng này nhất là vì hai lý do: Nó người Nam, to con, bắp thịt cuồn cuộn hay hiếp đáp nhóm Bắc Kỳ di cư của tôi. Một hôm nó nghiêng người qua bàn tôi, nói:

“Tao chấp cả 5 thằng mày, dám chơi hông?”

Tôi nổi máu anh hùng, đáp:

“Mẹ kiếp, mình tao chơi mày là đủ rồi!”

Vừa nói xong là tôi vùng lên, kẹp cổ nó đè xuống bàn. Tồn cựa quậy không được, xin thua, nhưng thách tôi chơi tay đôi với nó, sau khi tan học. Tôi bàn với thằng Tuấn:

“Tao đánh trên, mày đánh dưới. Tao hô: “Nhào dô” là cùng xông lên, tao kẹp cổ, mày giật chân nhe!”

Tuấn gật đầu. Khi trống tan học đánh lên, bọn học trò ùa ra, nghẹt cả đường. Tôi và Tuấn đợi dãn bớt là hất hàm với thằng Tồn. Ba đứa đứng thủ thế ba góc, tôi hô “Nhào dô” là cả Tuấn và tôi nhào dô, kẹp cổ, giật cẳng thằng Tồn té ngửa, rồi cứ thế mà thoi, đấm, lụi cho đến khi thằng Tồn chắp tay vái, thì hai thằng tôi mới tha, nhưng thằng Tồn ăn gian, vừa vùng dậy là móc súng cao su ra nã đạn vào tôi và Tuấn, hai thằng ôm đầu chạy thục mạng. Về nhà, thấy áo sơ mi tôi rách, mẹ tôi nắm đầu tôi, lôi vào bếp, dùng cây sắt gắp than củi, quất cho tôi chục cái gần bắn máu đít. Tôi không khóc và không xin lỗi.

Tính tôi từ nhỏ đã lì, bất chấp mẹ đánh đến gần chết cũng không bao giờ mở miệng xin lỗi. Có lần mẹ tôi dùng cây gỗ mỗi cạnh 1 phân, quất tôi đến gẫy đôi, bà chấp đôi lại, quất tiếp, đến khi tôi bất tỉnh thì lấy dầu cù là xoa cho tôi tỉnh lại. Cũng tại ngôi nhà này mà tôi ăn đòn kinh khiếp. Một lần tôi “chôm” tiền mẹ đi xem phim, bị mẹ lấy xe điếu đồng mà mẹ vẫn dùng để hút thuốc lào đánh tôi đến cong cả cái ống đồng đó.

Thật ra thì tôi cũng quậy từ bé. Biết mẹ tôi hay để tiền trong túi áo cánh rồi lấy kim băng gài lại, tôi chờ buổi trưa mẹ tôi nằm ngủ trên chiếc phản giữa nhà, tôi nhẹ nhàng bò trườn trên phản, sẽ sàng bấm cho cái kim băng bung ra, từ từ thò tay vào rút ra một hai tờ, rồi từ từ nhét phần còn lại vào túi mẹ, từ từ bấm kim băng lại. Làm vài lần trót lọt, nhưng hôm đó, mạng tôi bị xui, nên đang bấm kim băng trở lại, thì mẹ thức dậy, thế là tên tội phạm cứng họng, cúi đầu chịu phạt cho đến khi nằm thẳng cẳng dưới đất, không nhúc nhích. Tôi không nhớ anh, chị nào đã đưa tôi ra bác sĩ ngoài mặt đường Trương minh Giảng chích thuốc tỉnh, chỉ biết là khi mở mắt ra, thấy phòng mạch sáng choang…

Trở lại với lý do thứ hai làm tôi nhớ thằng Tồn nhất là vì nó có con em gái tên Võ thị Yến Oanh, có bộ mông to đùng. Tôi chỉ nhớ mang máng khuôn mặt Yến Oanh, có cặp mắt bồ câu to tròn, cặp môi phụng phịu, nhưng nhớ nhất là cặp mông. Hôm đó, ngày nghỉ gì đó, mà chúng tôi ở lại trường, chơi trốn tìm bên ngoài trường. Tôi chạy núp sau chiếc xe nhà binh. Yến Oanh thấy vậy, muốn giúp tôi nên nàng leo lên xe, ngồi dựa mông sát thành xe, che cho tôi núp bên dưới. Nàng nói: “Tiến cứ núp đây, tụi nó không thấy đâu.”

Thế là nàng đưa mông ra che cho tôi, nếu tôi di chuyển đi lên đầu xe hay đi xuống cuối xe, thì nàng lại xích cái mông đi theo…Cứ thế mà cái mặt tôi cứ dính sát vào dưới mông nàng, thấy rõ cái đường viền của quần trong! Lúc đó, tâm hồn thơ trẻ không thấy gì, bây giờ nghĩ lại thấy buồn cười quá! Giả sử như hôm ấy, nàng ăn hột mít, thì chao ôi, cái mặt tôi lãnh nguyên tràng đạn. (Bao năm sau này, tôi để ý tìm cặp mông của nàng, và đinh ninh rằng chỉ cần nhìn thấy cặp mông nào đó giữa hàng chục người đẹp, không cần nhìn mặt, tôi cũng có thể nhận ngay ra Võ Thị Yến Oanh, người đẹp “cứu bồ” của tôi năm xưa!)

Trong số học trò nổi bật của lớp đệ Thất năm ấy, có “chị” Hằng, cũng ở ngay trong ngõ nhà tôi. Gọi là “chị” vì chị lớn hơn tôi nhiều, đã là một thiếu nữ tha thướt giữa những nàng con gái tha thướt năm ấy. Có lẽ vì di cư khi đã lớn tuổi, nên trong lớp tôi có 4,5 “chị” lớn, điệu đà, đi học mặc áo dài, trong khi nhóm con nít của tôi vẫn mặc quần xoọc, đi dép Nhật, về sau bị Cha mắng, bắt phải đi săng đan. Hằng khá đẹp theo cặp mắt con nít tôi hồi đó, và cũng đẹp với mắt thầy H., dậy Anh Văn, làm Thầy cứ hay đi xuống cuối lớp mà giảng riêng cho Hằng, cô thiếu nữ hay mặc áo dài xanh lam. Thầy thiên vị rõ ràng, làm tụi tôi chán, mà không biết phản ứng ra sao, ngoài cách trốn học đi chơi từ cả hai lớp đệ Thất và đệ Lục.

Năm tôi lên đệ Lục, cũng vẫn Thầy H. và vẫn là ông Thầy thiên vị. Bức tường bên hông Trường cao hơn đầu người lớn, lại có rào kẽm gai, vậy mà tôi vẫn leo qua được, nhẩy cái vù xuống vườn nhà bên cạnh, trồng toàn ổi xá lị. Tôi nhẩy sang, chôm một quả, ngồi nhâm nhi dưới gốc ổi một lúc rồi mới trèo trở lại. Hôm đó, lại gặp ông Thần Xui Xẻo đến thăm. Tôi đang từ từ nhấc chân lên khỏi hàng kẽm gại, để trở lại lớp, thì Cha Yên đi tới. Thấy bóng áo chùng đen cao cao, gầy gầy tiến đến, tim tôi như đứng hẳn lại. Cha nhìn lên, nói nhẹ nhàng như hơi thở:

“Con cứ từ từ xuống nhé, khéo kẻo rách quần.”

Tôi run rẩy leo xuống. Cha không quay lại, đi thẳng về văn phòng, chỉ hất hàm cho tôi đi theo Cha. Vào văn phòng, lúc đó, đã có vài nữ sinh đứng lấp ló, tính xin xỏ cái gì đó, Cha xua tay cho tất cả đi ra rồi Cha ngồi xuống ghế sau bàn giấy, hỏi tôi lý do gì mà trốn lớp. Tôi khoanh tay, nói rõ ràng:

“Thưa Cha, con trốn lớp vì thầy H. dê gái!”

Nghe như pháo nổ, nhưng Cha vẫn hiền từ:

“Thế này nhá. Con ra góc phòng lấy cái chiếu nhỏ, trải ra, rồi nằm sấp xuống.”

Tôi ngoan ngoãn vâng lời. Sau khi thấy tôi nằm sấp rồi, Cha nhẹ nhàng rút cây roi mây dài dựng ở góc phòng, bước đến, vừa quất vào mông tôi, vừa nói, cũng rất dịu dàng:

“Cha đánh con 5 roi, cho con chừa tật dám nói thầy giáo dê gái!”

Tôi bị Cha quất roi, không thấy đau gì vì quen bị mẹ đánh rồi, nhưng đau vì có mấy đứa con gái núp ngoài cửa, nhìn tôi bị đòn mà cười khúc khích.

Cũng từ trận đòn đó, mà tôi ngoan hẳn, không còn trốn học, không còn đánh lộn thường ngày theo máu du đãng Khánh Hội nữa, chỉ trừ một lần, tay K. học đệ Tứ hơn tôi hai lớp, khoái hai bà chị tôi học đệ Ngũ, nên gặp tôi cứ ví tôi với Vương Quan, em Thúy Kiều, Thúy Vân, rồi xoa đầu tôi như xoa đầu con kiki vậy. Tôi ức quá, lại trở thành một tên du côn Khánh Hội, vung tay gạt bàn tay hắn ra, rồi nhào tới kẹp cổ hắn (tôi có cái đòn này độc đáo lắm, khó có thằng nào tránh khỏi), đè xuống đất, rồi giơ tay dứ dứ:

“Mày liệu hồn. Từ nay mà còn gọi tao là Vương Quan nữa là tao uýnh mày bầm dập luôn.”

Tin môt thằng đệ Lục dám uýnh thằng đệ Tứ vang cả sân trường. Từ đó, mọi thằng lạng quạng né tôi, cả thằng Lãnh, tên du côn số một, từng quất tôi túi bụi bằng giẻ lau bảng, khi tôi bênh thằng Năng, nhỏ con nhất lớp, bị nó bắt nạt nhéo tai, nhéo mũi hoài. Nó không đấm, mà chụp ngay cái giẻ đầy bụi phấn quất vào mặt tôi, tá hỏa tam tinh. Khi thấy tôi nhắm mắt, nó xông tới, thụi vào mặt tôi lia lịa, đến khi tôi ngã ngửa ra thì nó mới thôi. Nhưng sau khi tôi dám uýnh thằng đệ Tứ lớn hơn tôi vài tuổi thì nó né tôi, mỗi khi thấy tôi, là nó lảng xa.

Cũng từ trận đòn mà Cha Yên tặng, tôi đã lớn lên, đi học mặc quần dài có ủi đàng hoàng, giầy săng đan gài nút, tóc chải bri-ăng-tin. Đến lớp đệ Ngũ, tôi học thuộc tất cả mọi bài, nhất là môn Việt Văn do Cha Yên dậy. Tôi thuộc Cung Oán Ngâm Khúc như cháo. Đọc Kiều như hơi thở, đọc một lèo cả trăm câu cho đến khi Cha bảo “thôi”, thì mới thôi. Vì thế mà cuối năm đệ Ngũ, tôi được giải thưởng “Đạo Đức!” lên cột cờ lãnh thưởng là cuốn Tâm Hồn Cao Thượng, vở, bút…

Một điểm đặc biệt về Trường Lê Bảo Tịnh mà tất cả các trường trung học Saigon, không nơi nào có, đó là cứ chiều thứ Năm, là chiếu phim. Cha Yên cho dựng một cái màn ảnh bằng gỗ thật độc đáo, to bằng cả chiều dài một lớp học, được treo lên hai cây cột đóng vào tường ở cuối sân trường. Đến giờ chiếu phim, hai anh đệ Tứ to con leo lên nóc lớp học, gỡ dây, từ từ thả tấm màn xuống, đến tầm cao hơn đầu người thì đứng lại. Một Thầy điều khiển máy chiếu phim, chiếu toàn những phim độc: Quo Vadis, Ben Hur, và những phim cao bồi giá trị…Vì không có phụ đề, nên một Thầy đứng giảng cho học trò đứng ngồi lổn nhổn trong sân trường nghe, hấp dẫn vô cùng.

Lên đến đệ Tứ, tôi được ngồi ở lớp sát văn phòng, đối diện cổng. Tôi ngồi sát cửa lớp, nên có thể nhìn ra cổng, theo dõi từng người ra vào. Hôm đó, giờ Thầy Dậu. Chợt thấy một bóng hồng bước vào cổng, chắc để xin học, tôi ngó ra ngoài, và ngó si mê, theo dõi từng bước chân người đẹp thon thả bước vào. Thầy Dậu gọi tên tôi, không nghe trả lời. Thầy đến sát bên cạnh, dùng gáy cuốn sách đang cầm trong tay, táng vào đầu tôi, nháng lửa. Thầy nói lớn:

“Tiến ơi! Con thành Chu Tất Thoái rồi!”

Mấy thằng ma ngồi cuối lớp, đập bàn la hò: “Thoái rồi! Tiến ơi! Con thoái rồi!”

Thầy Dậu phải suỵt mấy lần, tui ma kia mới im, làm tôi xấu hổ quá sức, nhất là trong lớp lại có người đẹp tên Mỹ, ngồi ngang tầm tôi, hay liếc về phía tôi, để đáp lại những cú liếc mà tôi tặng nàng. Một lần, tôi bạo gan, ngó nàng đang cúi xuống mà vẽ thoáng ngay vài nét (không hiểu sao, tôi có khả năng vẽ chân dung vài nét rất nhanh, chỉ chừng 30 giây là xong một bức hình), rồi lén bỏ vào ngăn kéo nàng.

Thế là từ đó, cú sét ái tình nổ tung, nhưng mà vì tôi quá nhát gái, cứ nghĩ đến việc đứng gần nàng, là tim tôi muốn ngừng đập, nên hai đứa, suốt năm, chỉ có liếc qua, liếc lại như phóng hỏa tiễn, mà hỏa tiễn tịt ngòi, nên chẳng đâu vào đâu. Mối tình chết lịm từ trong trứng nước, khi tôi thi rớt kỳ thi Đệ Tứ, phải ở lại học “đúp”, còn nàng lên thẳng trường Trưng Vương. Như vậy, là tôi đã “tương tư sớm” đến 2 nàng trong 4 năm học Lê Bảo Tịnh, nàng Võ Thị Yến Oanh và nàng Nguyễn Thị Mỹ. Mỗi nàng cho tôi một kỷ niệm, nàng Oanh cho tôi hình ảnh cặp mông to đùng, nàng Mỹ cho tôi những ánh mắt liếc sắc như dao cạo. Trái tim tôi bắt đầu rướm máu.

Năm đệ Tứ, học trò đã lớn tướng. Phía con trai thì có Phú (dân Hố Nai, đạo đức), Phùng Cao (sau là Phi công Trực Thăng), Ân, già nhất trong đám học trò (Sĩ Quan Bộ Binh), Thạc (cũng Bộ Binh). Phía nữ có hai chị em Nhuần và Quyên, học giỏi ác liệt, môn gì cũng đứng đầu. Điệu đà nhất vẫn là Hằng và Hạnh. Hằng thì tha thướt, lãng mạn, dáng đi tiểu thư, còn Hạnh thì nở nang, ngực muốn bung ra khỏi áo, dáng đi thật lạ là cái mông cứ cong tớn lên ở phía sau, y như đít vịt Donald, khiến tà áo sau cứ phập phồng, kiểu này, dân chơi gọi là “ngực tấn công, mông phòng thủ”. Hạnh là dân chịu chơi, làm thầy Hồ, dậy Việt Văn, phải khóc ròng trong lớp. Hôm đó, thầy Hồ, người tầm thước, đi dậy học bằng Mobylette xanh, dẹp, gọi Hằng lên bảng trả bài. Người đẹp không học bài, chắc là suốt đêm ôm gối mơ hoàng tử, nên đứng trơ lên trước bảng đen. Thầy Hồ ngó sang, thấy học trò bí, thì bước xuống đến bên cạnh, cầm phấn, giảng cho Hằng trên bảng. Phía dưới, chỗ nữ sinh, chợt có tiếng nói lớn:

“Cao hơn một tí!”

Ý nói là Thầy Hồ thấp hơn Hằng một tí. Thầy không nói gì, cứ giảng hết bài, đến gần hết giờ, thì Thầy nghiêm lại, hỏi:

“Hồi nãy, có anh chị nào nói Cao Hơn Một tí, nghĩa là sao?”

Hạnh giơ tay liền:

“Thưa Thầy, em! Em muốn nói là chị Hằng cao hơn Thầy một tí ạ!”

Thầy Hồ tái mặt:

“Sao chị lại nói thế?”

Vẫn dáng ngang ngạnh, Hạnh nói thật lớn:

“Thưa Thầy, sở dĩ em nói thế là vì hôm trước, em thấy trong vở của chị Hằng, có mảnh giấy của Thầy hẹn chị Hằng đi xi nê”.

Nghe câu này, cả lớp bàng hoàng như có tràng đạn liên thanh bắn tới. Thầy Hồ không nói được gì, đứng gục đầu xuống, nước mắt từ từ trôi xuống. Đau lòng cho Thầy giáo, Ân từ cuối lớp đứng phắt dậy:

“Chị Hạnh nói thế là vô lễ. Chị có biết là chị xúc phạm đến Thầy không? Tôi phản đối chị, vì đó là chuyện riêng tư của Thầy! Yêu cầu chị xin lỗi Thầy.”

Phía nam sinh lớn cũng “ồ” lên, bênh Thầy. Hạnh vênh váo, quay lại phía Ân:

“Tôi không xin lỗi thì làm gì tôi nào!”

Nói xong, Hạnh vùng vằng dọn sách vở, đi thẳng ra ngoài, cái mông hình như cong hơn mọi khi.

Cả lớp yên lặng nặng nề. Ân hướng về phía Thầy Hồ, ân hận:

“Thưa Thầy, chúng em xin lỗi giùm cho cái chị kia, hỗn láo quá sức. Thầy đừng buồn nhe, Thầy! Chúng em vẫn mang ơn Thầy dậy dỗ chúng em cho tới ngày hôm nay, có được kiến thức gì cũng là do nơi Thầy.”

Thầy Hồ cảm động quá, lại càng khóc nhiều. Thầy nói lí nhí:

“Cảm ơn các anh chị.”

Rồi Thầy cắp cặp ra về. Hằng cũng từ đó bỏ học luôn. Thế là lớp đệ Tứ mất đi hai bóng lả lướt, chỉ còn lại những người học trò chăm chỉ. Kỳ thi năm ấy, đậu gần hết, nhưng điều không ngờ đã xẩy tới: Người học giỏi nhất lớp, Nhuần, lại thi rớt cùng với tôi. Năm sau, học đúp lại, Nhuần vẫn ngồi chỗ cũ, nhưng thỉnh thoảng lại gục đầu xuống khóc rung cả vai. Tôi thương Nhuần quá, mà không biết nói sao để an ủi nàng, vì chính tôi cũng là thằng thi rớt! Dĩ nhiên, năm ấy cả hai cùng đậu Bình (học lại bao giờ cũng khá hơn học đi, vì đã nhai đi nhai lại đến chán!)

Rồi cuộc đời trôi qua, trôi qua, tôi chuyển qua trường khác, và thấy không đâu bằng trường Lê Bảo Tịnh thân yêu, với không khí ấm cúng, Cha Giám Đốc nhân từ, các Thầy thật tận tình chỉ dẫn, biết rõ tư cách từng học trò để mà giúp tấn tới. Mấy chục năm trôi qua, tôi vẫn nhớ đến ba chữ Lê Bảo Tịnh và coi như đó là gia đình thứ hai của tôi, nơi dậy tôi từng bước vào đời. Lê Bảo Tịnh ơi! Nhớ quá!

( Đầu tháng 10, năm 2020)

SPONSORED LINKS - LIÊN KẾT TÀI TRỢ

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

Advertising