Friday, 09/12/2016 - 11:40:45

Trường Tiền và Hương Giang

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Huế có hai biểu tượng độc đáo mà mỗi khi nhắc đến là cả một vùng cố đô với lịch sử huy hoàng với non xanh nước biếc như hiện ra ngay trước mắt đó là dòng Hương Giang và cầu Trường Tiền.
Hương Giang (1) là con sông chảy ngang thành phố Huế, chia Huế thành hai bờ Bắc Nam. Con đường thiên lý muốn thông tất phải có cầu. Căn cứ bài thơ "Thuận Hóa thành tức sự" của nhà thơ Thái Thuận, thi sĩ Quách Tấn đã cho rằng dưới thời vua Lê Thánh Tôn, sông Hương đã có cầu, chiếc cầu được làm bằng song mây bó chặt và nối liền nhau, nên có tên cầu Mây. Cầu có hình cái mống (cầu vòng) úp trên sông, mới có tên cầu Mống. Trải qua nhiều năm tháng, cầu Mống được thay bằng bằng gỗ, mặt cầu lát ván gỗ lim.

Hương Giang (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Hà Nội có cầu Long Biên (1898-1902) qua sông Hồng, Huế có cầu Trường Tiền qua Hương Giang. Trường Tiền là một trong những cây cầu đầu tiên được xây dựng ở Đông Dương vào đầu thế kỷ 20 theo kỹ thuật và vật liệu mới của phương Tây, với kết cấu thép. Cầu Trường Tiền có một lịch sử khá phức tạp, từ tên gọi cho đến bao nỗi thăng trầm suốt hơn thế kỷ.

Năm Thành Thái thứ 9 (1897), cầu Trường Tiền được khâm sứ Trung Kỳ Levécque giao cho hãng Eiffel của nước Pháp (đã dựng Tháp Eiffel ở Paris) thiết kế, đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) thì hoàn thành và được mang tên vua Thành Thái. Tổng cộng tiền xây cầu Thành Thái hết khoảng 400 triệu đồng bạc Đông Dương. Cầu Trường Tiền được thiết kế theo kiến trúc Gô Tích, thân cầu dài 402.60 mét. Cầu có 6 nhịp dầm thép hình vành lược, mỗi nhịp dài 67 mét, rộng 6 mét. Nhìn từ trên cao, chiếc cầu trông khá mềm mại nhịp nhàng làm cho cho dòng Hương Giang thêm duyên dáng.

                                                                  Tiền Cảnh Hưng

Qua 110 năm tồn tại, cây cầu có ít nhất bốn tên gọi. Từ 1899-1919 cầu mang tên Thành Thái.
Năm Giáp Thìn (1904), bão lớn làm cầu hư hỏng nặng. Hai năm sau, tức năm Thành Thái thứ 18 (1906), cầu được tu sửa, mặt cầu được đúc bằng bê tông cốt thép. Năm 1907, khi vua Thành Thái bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion, thì cầu đổi tên là Clémenceau, tên của Georges Cle'menceau, Thủ tướng Pháp thời đệ nhất thế chiến.

Năm 1937, dưới triều vua Bảo Đại, cầu Trường Tiền được trùng tu, cải tạo lớn. Cầu được mở rộng hành lang hai bên cho xe đạp và người đi bộ. Nơi vị trí trụ cầu giữa hai vài có bao lơn (ban công) lồi ra cho khách dừng chân, ngắm cảnh hoặc tránh nhau.

Năm 1945 chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng, vị Tiên Chúa có công khai phá vùng đất Thuận Hóa. Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử đến ngày nay, người dân Huế và người Việt đều gọi theo tục danh là Trường Tiền - theo tên bến đò cũ ở điểm đầu cầu phía Bắc, cạnh xưởng đúc (trường) tiền của triều đình.

                                                                  Cầu nổi quân đội

Sông Hương ngày nay có ít nhất là năm chiếc cầu xây dựng theo thiết kế tân tiến vững chắc. Nhưng, đối với người dân xứ Huế, Trường Tiền vẫn là chiếc cầu chan chứa biết bao tình cảm, hình ảnh chiếc cầu đã thực sự đi vào tâm hồn của mọi người con nơi cố đô.

Trong biến cố Tết Mậu Thân, trụ ba và nhịp bốn bị Việt Cộng giật sập để cắt đường phản công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa (2). Sau đó, một chiếc cầu phao được dựng tạm. Quá cảm xúc, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng viết bài hát "Chuyện một chiếc cầu đã gãy" để nói lên nỗi xót xa:

...Cầu thân ái đêm nay gãy một nhịp rồi
Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài
Vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu...

Nói đến cầu Trường Tiền - một hình ảnh độc đáo của thành phố Huế thơ mộng, cũng nên biết nguồn gốc hai chữ "Trường Tiền" có liên quan tới một võ tướng xứ Nghệ. Tên gọi Trường Tiền xuất hiện vào năm 1899, niên hiệu Thành Thái thứ 11, gắn liền với việc ra đời một công xưởng đúc tiền tại bờ Bắc sông Hương ngay vị trí cầu ngày nay.

                                                                  Tết Mậu Thân

Năm 1774, quan trấn thủ Nghệ An là Đoan quận công Bùi Thế Đạt tâu về triều việc mở cuộc tấn công vào Nam và được Chúa Trịnh Sâm đồng ý ra quân. Trong cuộc Nam tiến lần này, Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc giữ chức Thống tướng, Đoan Quận công Bùi Thế Đạt giữ chức Phó tướng, Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm giữ chức Tả tướng, thống lĩnh tướng sĩ 33 doanh thủy, bộ các đạo Thanh, Nghệ, vùng đông nam, tổng số gồm ba vạn quân.

Với lực lượng khá hùng hậu mạnh mẽ, quân Trịnh liên tiếp giành thằng lợi. Tới đầu năm 1775, quân Trịnh chiếm được thủ phủ Đàng Trong là Phú Xuân. Thống tướng Hoàng Ngũ Phúc quyết định cử Bùi Thế Đạt ở lại giữ thành Phú Xuân.

Bùi Thế Đạt tước Đoan Quận công, người làng Tiên Lý, huyện Đông Thành, nay là xã Diễn Ngọc, huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra trong gia đình dòng võ tướng, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng và tham gia chỉ huy, lập đại công trong nhiều trận chiến lớn. Ông cùng với Hoàng Ngũ Phúc và Nguyễn Phan là một trong ba người được ghi tên vào cờ Thái thường ở phủ chúa - một đặc ân rất hiếm có thời Lê Trịnh.

Sử gia Phan Huy Chú từng ca ngợi: “Thế Đạt là con nhà tướng, có mưu lược, hành quân thận trọng, yêu sĩ tốt, nhiều phen lập đại công. Triều đình bấy giờ coi là bậc Tể phụ để nương tựa. Dòng dõi danh gia vọng tộc, ông là bậc danh tướng của Hoan Châu thời gần đây.” (Lịch triều hiến chương loại chí)
Sau khi chiếm thành Phú Xuân, Đoan quận công Bùi Thế Đạt nhận lệnh của triều đình cho mở một xưởng đúc tiền lớn ngay tại khu vực bờ Bắc sông Hương (phía bắc cầu Trường Tiền ngày nay). Ông cho thu gom các sản vật và vũ khí bằng đồng không dùng như súng, đỉnh, vạc… để đúc tiền dâng lên vua Lê chúa Trịnh dùng vào việc ngoài biên. Công việc được tiến hành từ ngày 22 tháng 2 cho tới ngày 30 tháng 6 năm Bính Thân (1776). Tiền đúc ở đây được khắc bốn chữ “Cảnh Hưng Thuận Bảo.”
Trường Tiền và Hương Giang, hai tên gọi đã đi vào nhiều bộ môn nghệ thuật: Nhạc, Họa, Nhiếp ảnh và Thơ Ca...Xin trích một đoạn trong nhạc phẩm Tà Áo Tím của Hoàng Nguyên (người thầy quá cố dạy văn):

                                          Cầu Trường Tiền(Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang
Tôi gặp một tà áo tím
Nhẹ thấp thoáng trong nắng vương
Màu áo tím ôi luyến thương
Màu áo tím ôi vấn vương
...
Rồi về đêm đêm mơ màu áo ấy
Màu áo tím hôm nào
Dường quyến luyến trăng sầu
Chập chờn tâm tư màu áo thoáng chiêm bao
...
Để rồi chiều chiều bước chân bên giòng Hương Giang
Mong tìm lại tà áo ấy
Màu áo tím nay thấy đâu
...
Rồi chợt nghe tin qua lời gió nhắn
Người áo tím qua cầu
Tà áo tím phai màu
Để giòng Hương Giang hờ hững cũng nao nao

(Kỳ sau: Trường Tiền hay Tràng Tiền)
Trần Công Nhung (2016)

(1) Trong dân gian truyền rằng: sông Hương do hai nguồn tả trạch và hữu trạch của nó đã chảy qua những cánh rừng bát ngát "thạch xương bồ" ở hai bên dòng sông, những cánh hoa thạch xương bồ thơm ngát đã thấm đượm vào dòng sông chảy qua thành phố Huế mang theo cả hương thơm của nó, vì vậy con sông mang tên sông Hương.
Thực ra tên sông Hương còn do nhiều truyền thuyết, một truyền thuyết liên quan đến chúa Nguyễn Hoàng và chùa Linh Mụ: Chuyện kể rằng chúa Nguyễn Hoàng từ Dinh Cát thuộc tỉnh Quảng Trị vào nam, dọc đường hạ trại nghỉ ngơi cạnh dòng sông (Hương), thấy một người đàn bà nhà trời hiện ra, trao cho chúa một nén hương, dặn: Hãy thắp hương rồi đi xuôi theo dòng sông xinh đẹp này, khi nào hương tàn hết thì dừng lại, đấy là đất thiên thu vạn đại đế vương. Chúa Nguyễn Hoàng cả tin bèn nghe theo lời dặn của người đàn bà nhà trời mà chọn được thủ phủ Phú Xuân sau này.
Câu chuyện liên quan đến tên của hai hạng mục có thực và quan trọng trên đất thần kinh: Chúa Nguyễn Hoàng nhân nén hương linh mà đặt tên cho dòng sông dẫn đường chọn đất đế nghiệp là sông Hương. Và tạ ơn người đàn bà nhà trời mách bảo, ngay trong năm 1601, chúa cho xây quốc tự nơi đã được người đàn bà mách bảo bên sông, đặt tên là Thiên Mụ.

(2) Mậu Thân 68 là cái Tết kinh hoàng đối với nhân dân Huế, trên 6 nghìn người (già trẻ nam nữ) bị giết tập thể, chôn chung một hầm. Nhiều cây viết từ miền Bắc đã nhận xét "Mậu Thân 68 là một vết nhơ của vc trong lịch sử nước nhà.

Tin sách: Sách QHQOK bộ 16 tập (discount 50%). Đã phát hành hai tác phẩm mới: Vào Đời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang) xin liên lạc tác giả: email:trannhungcong46@gmail.com, Tel. (657)296-8727 hoặc thư về 1209 SW. Hopi St.
Blue Springs, MO 64015 (USA)

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp