Friday, 02/11/2018 - 07:59:24

Tìm hiểu về Cổ Nhạc Tài Tử Cải Lương với nhạc sĩ Văn Hoàng

 


Nhạc sĩ Văn Hoàng với cây đàn guitar phím lõm (áo vest màu kem) cùng các nhạc sĩ trong ban nhạc trong buổi diễn tưởng nhớ cố nghệ sĩ Thanh Nga tại rạp Saigon Performing Arts năm 2014. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Bài BĂNG HUYỀN

Tiếng đàn tài hoa của nhạc sĩ cổ nhạc Văn Hoàng
Những khán giả yêu cổ nhạc tại Quận Cam nói riêng và tại Hoa Kỳ nói chung, nếu có duyên nghe được tiếng đàn guitar phím lõm của nhạc sĩ cổ nhạc Văn Hoàng, chắc hẳn sẽ rất hài lòng với tiếng đàn mượt mà qua từng âm thanh đầy gợi cảm, lúc thì du dương, lúc thì róc rách như tiếng của dòng suối thì thầm, lúc véo von như tiếng sơn ca, lúc thì trầm lắng như tiếng lòng người đầy tâm sự...

Phong cách diễn tấu của ông rất trẻ trung, tươi mượt, lại đằm thắm và êm dịu. Ngón đờn của ông tạo được âm sắc cuốn hút cả người ca và người nghe. Ông còn tự sáng tạo một phong cách diễn tấu riêng cho mình; nghĩa là lối chạy chữ, nhấn nhá hoàn toàn mới lạ. Tiếng đàn có âm sắc hòa quyện những thanh có độ vang hơn là trầm. Âm thanh ấy luôn du dương bay bổng, dù ở những thể điệu Nam - Oán vẫn cho người cảm nhận thanh âm rộng ràng.

Nhạc sĩ Văn Hoàng với cây đàn guitar phím lõm (áo vest màu kem) cùng các nhạc sĩ trong ban nhạc trong buổi diễn tưởng nhớ cố nghệ sĩ Thanh Nga tại rạp Saigon Performing Arts năm 2014. (Băng Huyền/ Viễn Đông)


Cậu bé Ngọc Minh (là tên thật trên giấy tờ của nhạc sĩ guitare phim lõm Văn Hoàng) khi mới 6, 7 tuổi, chưa biết phải làm gì cho tương lai, nhưng tâm hồn ngây thơ của cậu đã biết đắm say tiếng đờn ca vọng cổ của cha, là nhạc sĩ guitare phím lõm Văn Hải, mở lò dạy ca (vọng cổ, tài tử cải lương) tại nhà, nơi vùng Chợ Lớn.
Nhạc sĩ Văn Hoàng cho biết, khi được 10 tuổi, ở gần nhà ông, có ông Trừ Quang, lớn hơn ông khoảng 9 tuổi, mở lớp dạy guitare phím lõm ngay tại nhà.

“Tôi thường qua đó chơi và học lóm. Học trò của anh học chưa đờn được, tôi đứng xem mà đã biết đờn rồi. Anh thấy tôi thông minh, anh bèn kêu tôi vào để dạy cho tôi. Học với anh khoảng hơn một năm, thầy của anh là nhạc sĩ guitare Văn Tuồng, thấy tôi mới 11 tuổi mà biết đàn khá, khen tôi giỏi và có dạy thêm một ít cho tôi. Khoảng hai năm sau, thầy Văn Vĩ đến nhà ba tôi để Đờn Ca Tài Tử và có thâu băng cát xét lớp dựng Văn Thiên Tường. Tôi có mở băng ra nghe thấy thầy đờn hay quá, bèn tập đờn theo băng giống thầy. Khoảng ba tháng sau thầy quay lại, tôi trổ tài cho thầy xem.”

Danh cầm Văn Vĩ đã phát hiện ngón đờn trẻ triển vọng của cậu bé Ngọc Minh (tên ở nhà là Hoàng), thương mến nên nhận làm đệ tử, đổi nghệ danh cho ông là Văn Hoàng.

Nhạc sĩ cổ nhạc Văn Hoàng kể rằng, bấy giờ căn bản cổ nhạc và ngón đờn đã được ông nắm khá vững, theo học thầy Văn Vĩ chủ yếu là phần nâng cao, học thêm những kỹ thuật láy, chạy ngón. Vốn đam mê, lại có thiên tư, nên ông học rất nhanh. Những kỹ thuật như láy ngón đờn, những bài bản nhỏ, bài Quảng… là những bài mà thầy Văn Vĩ đàn rất hay đã được Văn Hoàng lĩnh hội vững vàng.


Nhạc sĩ Văn Hoàng (Hình cung cấp)

Sau thời gian học với thầy Văn Vĩ hơn một năm, Văn Hoàng đã đờn những bài Quảng rất thành công, khá giống thầy Văn Vĩ. Khi 14 tuổi, ông đã đi đàn tại những đám tiệc quanh vùng, đã làm ra tiền từ tài đệm đàn của mình. Sau đó, ông còn tìm đến học với thầy Hai Ngà, Vũy Chổ... những bài bản lớn.

Bấy giờ, tại nhiều cuộc đờn ca tài tử trong vùng Chợ Lớn đều có mặt Văn Hoàng đàn guitare phím lõm. Có cuộc đờn ca lớn là ông được thầy Văn Vĩ dẫn đi theo để luyện nghề với các nghệ nhân, nên từ khi còn trẻ tuổi nhạc sĩ Văn Hoàng đã có cơ hội “giao duyên” với những danh cầm của cổ nhạc miền Nam như Văn Vĩ, Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu), Năm Cơ.

Nhạc sĩ Văn Hoàng đã chính thức bước chân vào đờn cho gánh hát lúc ông 19 tuổi vào năm 1976. Ban đầu ông đi theo đoàn Hoa Phượng, đi lưu diễn ở Rạch Giá, và một số vùng quê của miền Nam. Sau Hoa Phượng, ông còn đi theo những đoàn như Trúc Giang, Sân Khấu Mới, Hoa Miền Nam…

Để tìm tương lai cho con có một cuộc sống tốt đẹp hơn, năm 1982, ông vượt biên và sang định cư tại Hoa Kỳ. Ngay lúc đó, ông đã sống tại Quận Cam, trong khu vực Little Saigon, đã gặp lại nghệ sĩ Hùng Cường nơi đất khách. Vì ông từng đàn cho nghệ sĩ Hùng Cường khi còn ở Việt Nam, đi hát “chui” với nghệ sĩ Mỹ Châu hát tân cổ giao duyên ở tụ điểm trường đua Phú Thọ, những năm 1977- 1978.

Nhờ vậy, nhạc sĩ Văn Hoàng nhanh chóng trở lại với nghiệp đờn, thường xuyên có show vào dịp cuối tuần đều đặn nhiều năm, ông còn sang những tiểu bang khác và đi nhiều nước châu Âu, Úc châu, Canada... để đệm đàn cho các nghệ sĩ hát những trích đoạn cải lương, tân cổ giao duyên…

Nói thêm về tiếng đờn của mình, nhạc sĩ Văn Hoàng giải thích, “Tôi luôn tự hào, vì mình đã học được với những người thầy giỏi, cộng thêm sự tìm tòi, học hỏi của mình mỗi ngày, để tạo nên những thành công cho tiếng đàn. Khi đàn, tôi có thể đàn được đủ độ cung, người nào ca thấp, tôi đàn tông thấp, người nào ca cao, tôi đàn tông cao, mà không cần phải lên dây đàn. Tôi đờn bài Bắc, thì theo trường phái Bắc, còn nếu tôi đàn bài Oán là theo trường phái Oán... Mỗi bài đều rõ trường phái, chứ không lẫn lộn.

“Khi học bản Sương Chiều Tú Anh, thường thầy dạy cung Quảng, chỉ có 1 cung thôi, nhưng tôi có thể đàn được 5 cung khác nhau bản này. Có những bài rất khó như Ngũ Châu Minh Hồ, nhiều người không đàn được. Bài đó có 5 lớp, mỗi lớp 4 câu. Dứt 8 câu này là chuyển sang cung khác, lối khác luôn, khi đang Bắc, chuyển sang Oán, Ai, Ngự... Nhiều khi nhìn vào sách, nhiều người không đàn được, nhưng tôi có thể đàn thành thạo bài này. Từ dây hồi tư chuyển qua dây hồi nhất. Kỹ thuật kỳ công, nhờ kinh nghiệm lâu năm, nên tôi có thể đàn những bản trên rất dễ dàng.”

Vẻ đẹp của cổ nhạc tài tử cải lương

Giới thiệu vẻ đẹp của cổ nhạc tài tử cải lương, nhạc sĩ Văn Hoàng cho biết, cải lương có năm nốt nhạc (ngũ cung - Hò, Xự, Xang, Xê, Cống) và một nốt phụ nữa là nốt Oan và 3 tông (dây) hay đàn nhất :
Đó là dây Đào (Rề), dây Kép (Sol), và dây kép cao (La) - cũng thường gọi dây Xề.

Thường thì dây Đào cho người nữ hát, dây Kép cho người nam hát. Nếu người nam và nữ hát chung thì người đàn có thể bắt đầu dây Đào sang Kép hoặc ngược lại.

Còn về bài bản của cổ nhạc cải lương, nhạc sĩ Văn Hoàng giới thiệu, cổ nhạc bao gồm rất nhiều bài bản lớn, nhỏ. Để tiện việc xếp loại, người ta chia các bài bản theo từng nhóm: Nam, Bắc, Oán, Hạ, Quảng, Ngự...
Ngoài ra còn có các bài Lý (có hơi bài Nam), tuy ngắn ngủi nhưng không kém nét trữ tình, cũng đóng góp một phần không nhỏ trong bộ môn cổ nhạc. Như các bài Lý Chiều Chiều, Lý Sâm Thương, Lý Giao Duyên, Lý Mỹ Hưng, Lý Năm Căn, Lý Ba Tri….

Nhạc sĩ Văn Hoàng giải thích, bên cổ nhạc tài tử cải lương, nổi bật có những dây đàn như dây Sài Gòn, dây Rạch Giá, dây Tháp Mười (dây Hò đậy), Dây Tứ nguyệt, Dây Lai - kiểu dây thông dụng trong nhạc âm tài tử - cải lương, Dây Ngân Giang…

Để đàn bài Vọng Cổ, trước đây người ta dùng dây Sài Gòn đàn cho kép hát, và dây Ngân Giang để đàn cho đào hát.
Về nhịp đàn cổ nhạc thì có hai loại nhịp: Nhịp Trường Canh, là nhịp 1 (mỗi nhịp gõ một lần), rất đều. Nhịp Song Lang, là nhịp báo và chấm dứt câu. Trong nhịp Song Lang có bốn loại nhịp:
- Nhịp hai: gõ song lang vào nhịp thứ hai.
- Nhịp tư bỏ hai: tức là bỏ 2 nhịp song lang và lấy 2 nhịp song lang 3 và 4.
- Nhịp tám chậm: là gõ song lang vào nhịp thứ 6 và thứ 8 của trường canh tám nhịp.
- Nhịp 16: là gõ song lang vào nhịp thứ 12 và 16 của trường canh 16 nhịp.
Ngoài ra còn có Nhịp Nội (nhịp đánh vào tiếng đàn) và Nhịp Ngoại (nhịp đánh sau tiếng đàn).”
Trong một bài viết được phổ biến trên internet, có giới thiệu khá chi tiết một số kiểu dây đờn cơ bản trong nhạc tài tử - cải lương, xin được trích lại trong bài viết này.

Dây đàn là thang âm cổ nhạc được giới nghệ nhân, nhạc sĩ điều chỉnh phù hợp với từng loại hơi, điệu (Bắc, Nam, Hạ, Oán, Ngự…) khác nhau và theo từng chất giọng của người ca. Trong quá trình trình diễn, các thế hệ nghệ nhân, nhạc sĩ đã không ngừng sáng tạo ra nhiều kiểu dây đờn, góp phần tạo thêm nét hay cho âm nhạc tài tử - cải lương.

Dây Sài Gòn
Ông Chín Hòa, nhạc công nổi tiếng ở Sài Gòn những năm 1940 là người đầu tiên đờn bài vọng cổ bằng cây đờn Guitar phím lõm (còn gọi là Guitar Việt Nam) để thu âm, nhưng tiếng đờn chưa được mượt mà, êm ái vì sở trường của ông là người chơi Nguyệt cầm (tức đờn Kìm). Để mọi người thật sự thích thú, say mê tiếng đờn Guitar phím lõm, hai nghệ nhân Ba Kéo và Armand Thiều (ở Sài Gòn) đã tạo nên một phong cách chơi đờn Guitar phím lõm được nhạc giới tài tử - cải lương tôn trọng và gọi là “dây Sài Gòn.” Dây Sài Gòn thường được thể hiện cho giọng ca nữ rất thuận lợi.

Dây Rạch Giá
Sau khi cây đờn Guitar phím lõm xuất hiện thì nhiều kiểu so dây cũng ra đời, trong đó có kiểu so dây từ cây đàn Octavina được đặt là “dây Rạch Giá”. Khoảng năm 1930 đến năm 1935, tại Rạch Giá (Kiên Giang) có ông giáo Tiên làm nghề dạy học lâu năm rất thích đờn ca hát xướng. Ông có cây đờn Octavina (một loại đàn nhỏ, lên dây như cây Mandolin, nhưng hình dáng của nó giống như cây đờn Guitar).
Trong một buổi sinh hoạt đờn ca, trước đông đảo bạn bè nghệ nhân, tài tử ở Rạch Giá, ông giáo Tiên dùng cây Octavina hòa tấu bản vọng cổ nhịp 4 cùng mấy nhạc cụ khác như: Tranh, Bầu, Kìm, Cò. Tiếng đờn vừa dứt, những tràng pháo tay tán thưởng vang lên. Kể từ đó, kiểu dây Rạch Giá ra đời. Điểm độc đáo của kiểu dây Rạch Giá là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thang âm Bắc và thang âm Nam trong bài vọng cổ. Kết hợp này tạo nên một màu hòa âm ngân vang, lung linh, huyền ảo, tạo một cảm giác lâng lâng trong lòng người mộ điệu.

Dây Tháp Mười (dây Hò đậy)
Vào thời điểm 1935-1940, dây đờn Guitar phím lõm cũng như dây của cây Octavina dùng dây số 1 và 2 có tiết diện tương đối lớn nên độ căng của dây khá cứng, gây khó khăn trong diễn tấu. Để khắc phục tình trạng này, khoảng năm 1941-1942, các nghệ nhân vùng Đồng Tháp Mười đã hạ thấp cao độ dây xuống (thường là quãng 4 đúng) để dây chùng, bấm nhẹ tay hơn.
Vì dây chùng thấp xuống nên khi đờn, các bậc Hò phải tăng cao lên, bậc Hò là Sol trước đây đờn ở ngăn thứ 5 thì bây giờ phải đờn ở ngăn thứ 10. Do đó, các bậc Hò không rơi vào dây buông mà rơi vào ngón bấm, người ta gọi hệ thống dây này là “dây Hò đậy” (“đậy” có nghĩa che lại, chỉ các ngón bấm) hay còn gọi là “dây Tháp Mười”. Kiểu dây đờn này có ưu điểm là dây mềm, dễ nhấn nhá nhưng thế tay phải bấm liên tục.
Dây Tứ nguyệt
Vào khoảng năm 1942-1943, hệ thống dây dành cho giọng nữ ca được ra đời gọi là “dây Tứ nguyệt.” Giải thích về chữ “Tứ nguyệt” có người cho rằng đó là một cách gọi văn hoa như kiểu “dây Tố Lan” trong đờn Kìm, song cũng có người giải thích rằng: “tứ” nghĩa là bốn (4 dây), “nguyệt” là đờn Nguyệt (mắc dây theo cách mắc dây đờn Nguyệt). Một thời gian ngắn sau đó, vài nhạc công thêm vào “dây Tứ nguyệt” một dây số 5 nữa, đó là dây Ré như sự mở rộng bồi thêm một quãng 8 dưới của dây số 3 (Re). Với tầm âm thanh phù hợp với giọng ca, “dây Tứ nguyệt” đờn bản vọng cổ nghe ngọt ngào, mùi mẫn và nó có thể đờn được tất cả các bài bản của âm nhạc tài tử - cải lương một cách thoải mái. Dây Tứ nguyệt thường được thể hiện cho giọng ca nữ và những bài bản thuộc hơi điệu Nam.

Dây Lai - kiểu dây thông dụng trong nhạc âm tài tử - cải lương
Dây Tứ nguyệt” tuy có nhiều ưu điểm hơn so với tất cả các thử nghiệm, song khi đờn bậc Hò-Sol cho nam ca thì thế tay vẫn chưa thuận tiện. Vào khoảng năm 1948-1949, để đáp ứng sự đa dạng trong ca diễn của sân khấu cải lương và đờn ca tài tử với nhiều loại bài bản và nhiều bậc Hò khác nhau, một số nghệ nhân, nhạc sĩ đã cải tiến “dây Tứ nguyệt” thành một loại dây mới gọi là “dây Lai,” sự thay đổi của “dây Lai” từ “dây Tứ nguyệt” đó là dây số 4 - dây Xề (tương đương nốt La bên tân nhạc) được hạ xuống thành Xàng (nốt Sol). “Dây Lai” là sự kế thừa các kiểu dây: Sài Gòn, Rạch Giá, Xề bóp và Tứ nguyệt cụ thể như sau: Bốn dây số 5, 3, 2, 1: lai “dây Tứ nguyệt”; ba dây số: 4, 3, 2: lai “dây Rạch Giá”; ba dây số: 4, 3, 1: lai “dây Sài Gòn”; hai dây số: 4, 1: lai “dây Xề bóp”. “Dây Lai” có thể xem như hệ thống dây tương đối hoàn chỉnh, nó “ưu việt” hơn các kiểu dây đờn khác, có khả năng chơi tất cả các bài bản cổ nhạc cũng như các bài bản mới, đặc biệt các bài bản của sân khấu cải lương. Dây Lai thường được thể hiện cho giọng ca nam, còn gọi là dây Hò 3 (dây Kép ca).

Dây Ngân Giang
Dây Ngân Giang do cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Còn (tức Ba Còn) ở Bình Dương sáng tạo. Khoảng năm 1952, khi chiến sự ngày càng ác liệt, sân khấu cải lương rơi vào khó khăn, nhạc sĩ Ba Còn lên vùng Trảng Bom - Long Khánh - Đồng Nai (gần sân ga Bảo Chánh) khai thác gỗ rừng. Những lúc nhớ sân khấu, ông ôm đờn rỉ rả một mình. Trong lúc ngẫu hứng, từ hệ thống dây tổng hợp thông dụng (dây (1) từ chữ nhạc Liu ông hạ cao độ xuống thành Xê (bằng dây (2) của dây Lai); trong khi đó ở dây (2) lại hạ cao độ từ Xê xuống thành Xư (bán Xự hay Xự già); giữ nguyên dây (3) là Hò và nâng cao độ từ Xàng lên Xề ở dây (4) và giữ nguyên chữ Tồn ở dây (5)), ông đã tạo ra một hệ thống dây mới (dây 1 là Xê; dây 2 là Xư (bán Xự hay Xự già); dây 3 là Hò; dây 4 là Xề; dây 5 là Tồn) và đặt tên là dây Bảo Chánh. Sau khi trở lại Sài Gòn, với ngón đờn và hệ thống dây đờn riêng, ông nhanh chóng chinh phục giới mộ điệu Sài Gòn và 7 năm sau (năm 1959), tiếng đờn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Còn với dây Bảo Chánh lần đầu tiên được thu vào đĩa nhạc với bài vọng cổ “Nắm xương tàn” do cố nghệ sĩ Hữu Phước (thân phụ của ca sĩ Hương Lan) ca. Qua làn đĩa cổ nhạc, dây đờn vừa lạ vừa hay này nhanh chóng được các nghệ sĩ bốn phương tìm hiểu và luyện tập. Sau đó, nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu) và danh cầm Văn Vỹ góp ý đề nghị đổi tên thành dây Ngân Giang, vì hệ thống dây đờn này khi đờn lên nghe lâng lâng, bay bổng, tiếng đờn sáng lên “như những áng mây bàng bạc tựa dãy ngân hà”. Từ đó, dây Bảo Chánh có tên gọi là dây Ngân Giang. Với những mênh mông, dàn trải hòa quyện với những chữ nhấn chữ rung độc đáo, đạt được độ sâu lắng, dây Ngân Giang phù hợp với những bài bản thuộc hơi Ai, hơi Oán và khá thích hợp với làn điệu vọng cổ.
Ngoài những kiểu dây đờn vừa kể trên, nhạc tài tử - cải lương còn sử dụng những kiểu dây đờn khác như: Dây Tố Lan, dây Xề bóp, dây Xề buông, dây Mỹ Châu.

Kinh nghiệm của nhạc sĩ Văn Hoàng

Nhạc sĩ Văn Hoàng cho rằng học đàn cải lương như học ngoại ngữ khác. Trước hết, cứ học thuộc lòng. Rồi lập đi lập lại nhiều lần và dần dần trở thành thói quen tự nhiên. Sau khi đàn vững rồi thì lúc này có thể sáng tạo cho mình cách đàn riêng, chỉ cần sửa đổi một vài nốt trong một khuôn cũng thấy khác nhiều lắm .
Còn về kỹ thuật đàn guitare phím lõm hay dở, cao thấp, hơn thua nhau ở sự ngẫu hứng, sáng tạo nhiều “chữ đờn” riêng, lối chạy chữ luyến láy, chẻ nhịp và quan trọng nhất ở cách nhấn nhá chữ “xang.”
Với lời khuyên cho những ai muốn trở thành nhạc sĩ cổ nhạc giỏi, theo ông người đó phải có thiên tư trời cho, cũng chữ đờn đó, ngay nốt đó, với người không có thiên tư, bấm nghe khác, còn người có thiên tư, đàn sẽ hay hơn. Ngoài thiên tư, cộng thêm luyện tập, chịu học hỏi, nghiên cứu và phải đam mê thì mới thành công. Không bao giờ tự hài lòng là mình đủ rồi, mà phải luyện thêm, học hỏi thêm.
Ông nói: “Dù tôi đã đờn hơn 40 năm rồi, mà nay vẫn còn tiếp tục học. Không bao giờ ngưng nghỉ hết. Nghệ thuật mà ngưng, thì nó sẽ lùi.”

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp