Thursday, 02/07/2020 - 05:40:28

Tiễn ông về với sông Côn

 


Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)


Bài ĐOÀN NHÃ VĂN

Sáng nay, sau khi làm xong một số việc cần làm, tôi chạy lên Bolsa, thắp một nén nhang tiễn ông.

San Diego và Bolsa chỉ cách nhau chừng 90 dặm. Thường, tôi chạy chừng 1 tiếng 15-20 phút là tới. Hôm nay lạ. Kẹt xe. Xe kẹt từ dưới Oceanside, kẹt lên tận San Clemente, vượt qua khỏi hai lò nguyên tử ở San Onofre. Cả một đoạn đường dài mười mấy dặm, xe nhích từng chút, từng chút một. Với những ngày khác, chắc tôi bực lắm. Vậy mà hôm nay, dù kẹt xe, lại kẹt rất lâu, lòng tôi lại thanh thản lạ thường. Tôi thả miên man dòng suy nghĩ về ông, về những ngày đầu gởi bài cho tạp chí Văn Học.

Không hiểu tại sao tôi lại gởi hai bài viết về hai tác giả đến tạp chí Văn Học. Sao tôi không gởi cho tờ Hợp Lưu của họa sĩ Khánh Trường hay tạp chí Văn của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng? Có lẽ đó là một cái duyên văn nghệ. Mà thật ra, lúc đó tôi cũng không có ý gởi cho tạp chí nào cả. Tôi gởi cho vài người bạn đọc chơi, và họ thúc giục tôi gởi cho mấy tạp chí văn chương lúc bấy giờ, để chia sẻ cái nhìn của tôi với bạn đọc.

Chiều hôm sau, khi đi làm về, mở hộp thư, tôi nhận email của ông. Đại khái, ông nói: tôi rất vui nhận hai bài viết của anh. Bài giá trị. Sẽ đi trong những số VH sắp tới. Và ông hỏi xem, ý tôi muốn đăng bài nào trước.

Đó là mối duyên văn nghệ với tạp chí VH, mà ông đảm trách gần như tất cả: từ chuyện bài vở, thư tòa soạn, chuyện in ấn, chuyện gởi cho độc giả dài hạn. Dĩ nhiên có vợ ông và một số bạn văn phụ giúp, nhưng tựu chung ông vẫn một mình một ngựa, như Mai Thảo với Văn, và sau này là Nguyễn Xuân Hoàng, hay Khánh Trường với tạp chí HL.

Lúc đầu, ông tưởng rằng tôi cùng thế hệ với ông, hay ít ra, thì trẻ hơn ông dăm tuổi. Rồi ông đề nghị, nếu được, nên viết thường xuyên, và dành bài vở ưu tiên cho VH. Đó là lý do, thời gian đó, tôi viết thường xuyên cho VH.

Một số bài viết của tôi, sau khi đăng trên VH, khi nhận được “feedback” của độc giả gởi về tòa soạn, ông có chia sẻ lại dăm điều. Ông nói, “Có người cứ tưởng tôi viết những bài đó.” Nói xong, ông cười hề hề. Và, đầu năm sau, trong dịp Tết về, ông có gọi điện thoại, nói rằng: mỗi năm, VH có làm một bữa gặp mặt những người viết, và ngỏ ý muốn tôi chạy lên, “chơi với anh em VH.” Tôi rất ngại gặp người lạ, và càng ngại hơn với lời mời của ông, vì “anh em VH” theo tôi biết, không có ai “nhỏ” cở tôi. Chỉ có một người tôi biết, là Phùng Nguyễn, dường như là “trẻ” nhất. Mà anh Phùng Nguyễn cũng đã từng tuổi ấy. Tôi ngại, và từ chối.
Năm sau, ông cũng email, rồi gọi điện thoại, lại mời gặp anh em VH. Tôi cũng từ chối. Và lần thứ ba, không thể từ chối nữa, tôi chạy lên vào một buổi chiều. Dĩ nhiên, “anh em VH” đón tôi rất niềm nở, chẳng nề hà tuổi tác. Và đêm ấy, tôi đã gặp nhiều cây cổ thụ trong làng chữ nghĩa, như Võ Phiến, Nghiêm Xuân Hồng, Tạ Chí Đại Trường, v.v.. Và nếu tôi nhớ không lầm, “trẻ” thì có Phùng Nguyễn và vợ chồng nhà văn Hoàng Mai Đạt - Minh Thủy.

Tuyến xa lộ 5 theo hướng Bắc kẹt quá, nên khi vừa qua khỏi khu Dana Point, tôi lấy xa lộ 73. Đây là xa lộ làm ra sau này, nối xa lộ 5 với 405, mà cực Bắc của nó, gần tới khu Bolsa. Dù phải trả thêm $5, tôi cũng sẵn lòng. Vào xa lộ 73, tôi chạy một mạch. Tới khu nhà quàn, tôi đã thấy nhiều người bên ngoài. Bãi đậu xe dù chưa kín mít nhưng cũng khá nhiều xe. Tôi vào, việc đầu tiên nhận thấy rất nhiều vòng hoa. Hai hàng hoa hai bên, dẫn vào nơi ông nằm. Vào trong phòng, mười mấy dãy ghế, hai bên gần như kín chỗ. Tôi vào dãy gần cuối và ngồi vào chỗ trong cùng. Nhìn xung quanh, Hoa và Hoa, Hoa không còn chỗ để trong phòng, nên được mang ra để hai bên lối đi vào phòng số 1. Phía sau chỗ ông nằm là vòng hoa thật lớn, bên trong vòng tròn là dáng cuốn sách, với tên ông và tên tác phẩm “Sông Côn Mùa Lũ.”

Lúc tôi vào, hình như vừa khai mạc cho phần tưởng niệm. Từng người quen với ông, từ đồng nghiệp, đến đến đồng hương, bạn văn, rồi học trò cũ, v.v., lên nói những lời cuối với ông. Nhiều người chuẩn bị sẵn “diễn văn,” nhiều người nói tự nhiên, như chia sẻ với ông. Ai nói, mặc! Ông nằm đấy, lặng im.

Nhiều người nói rất cảm động. Trong số ấy, có Nguyễn Bá Trạc và Nguyễn Xuân Hoàng. Hai ông, nói không giấy bút. Nhắc lại những kỷ niệm gần xa, với ông. Nhắc chuyện xưa, Nguyễn Bá Trạc nói rành rõi, mạch lạc. Nhắc chuyện gần, ông vừa nói vừa khóc, nhắc lại những khoảnh khắc cuối với ông, với vợ ông, chỉ vài mươi phút trước khi ông ra đi. Nguyễn Xuân Hoàng nhắc lại 13 năm sống tại Nam Cali, đại khái: trong 13 năm ấy, gần như hằng mỗi cuối tuần, ông được ăn chiều tại nhà của tác giả SCML, nơi ấy là nơi hội ngộ của những ngòi viết lữ thứ, mỗi cuối tuần. Và ông nói, “Tôi và Giác là hai thái cực khác nhau. Khác từ tánh tình, cách ăn nói, đến quan niệm văn chương. Và chính vì cái khác ấy, tôi và Giác lại gần nhau, đến lạ lùng. Và tôi khám phá ra một điều: khi người ta khác nhau, là khi người ta xích lại gần nhau hơn...”

Tôi ngồi và nghe nhiều người nhắc đến những kỷ niệm với ông. Gần cuối phần tưởng niệm ấy, mắt tôi cay xè, tôi bước ra ngoài. Tôi thấy NXH và những người khác đang nói về điều gì đó. Khi tôi ra, NXH nhìn lên, nhận ra tôi. Tôi bước đến bắt tay ông và những người khác. Trong đó có: Đặng Phú Phong, Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyễn Chí Kham, Nguyễn Đình Toàn v.v.. Bắt tay xong, tôi đi qua hướng khác. Một phần, tôi muốn tránh cho họ thấy đôi mắt đang cay của tôi, phần khác, không muốn làm họ ngưng lại giữa chừng những gì họ đang nói tới. Tôi đi giữa những vòng hoa, tự hỏi: Ông nằm đó, nhưng có “thấy” những người thân quen, bằng hữu, học trò và độc giả (như tôi) đến để tiễn ông lần cuối?

Khi tôi trở vào, người học trò cũ của ông là người phát biểu sau cùng của phần tưởng niệm. Học trò cũ của ông nhắc về sông Côn, một địa danh của miền Trung mà bao người từng nhắc đến.

Riêng tôi, tôi biết đến cái tên sông Côn, là qua tác phẩm của ông, Sông Côn Mùa Lũ. Mà lạ, tôi đọc ông, Mùa Biển Động trước, rồi đến các tập truyện ngắn, rồi truyện dài Đường Một Chiều, một tác phẩm ông đoạt giải của Văn Bút VNCH, rồi đến tập sách ông viết về văn chương hải ngoại.

Tôi có viết một bài khá dài về MBĐ của ông. Trong phần kết, tôi có viết:

“Mùa Biển Động đưa độc giả theo chiều dài của trục quay lịch sử, với chiều rộng của rất nhiều tuyến nhân vật không cùng chiến tuyến, ở những cảnh đời khác nhau, và quan trọng nhất là ở chiều sâu: chiều diễn tả và phân tích tâm lý nhân vật, nhằm tái hiện lối suy nghĩ và cái nhìn về thời cuộc, của một thế hệ thanh niên miền Nam trong giai đoạn lịch sử cận đại. Thành công ở chiều thứ ba không phải là thành công ban đầu của nhà văn. Nếu dõi theo những tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác, người đọc thấy ông đã thành công trong việc này từ Đường Một Chiều.

“Bảy năm cho bộ trường thiên, với sự dàn dựng khéo léo, nối kết nhuần nhuyễn các sự kiện để tạo nên một tổng thể hoành tráng, với rất nhiều trang thấm đậm tình người, là một công trình tim óc của nhà văn. Viết Mùa Biển Động, Nguyễn Mộng Giác dường như đã đẩy hết tâm trạng của thế hệ mình, thế hệ thanh niên miền Nam, lên ngần ấy trang sách. Đây là thế hệ nằm giữa những gọng kềm của lịch sử, mang trên mình những vết thương lòng rất lớn, bất luận đã lựa chọn hay bị đẩy về phía nào của cuộc chiến. Và, cũng có thể nói, đó là một thế hệ thất bại.

“Dựng được cái thất bại của một người không phải dễ. Dựng được thất bại của cả một thế hệ là một điều khó. Đẩy được tâm trạng tha hương vào mỗi ngóc ngách suy tư của từng nhân vật, mà mỗi người có một lý tưởng khác nhau, ở mỗi hoàn cảnh khác nhau, đứng trên những chiến tuyến khác nhau, và đặc biệt, tha hương ngay trên gia tài của Mẹ, lạc lõng ngay trên đất hương hỏa của Cha, của cả một thế hệ thanh niên miền Nam, sau cơn lốc tháng tư 1975, là một việc khó hơn nhiều. Hơn thế nữa, MBĐ không chỉ tái hiện hiện thực mà còn mở ra cho độc giả những suy gẫm về hiện thực, từ vị trí của mỗi người đọc trong dòng hiện thực ấy. Tất cả đã góp phần tạo nên chỗ đứng trân trọng của tác phẩm trong lòng bạn đọc.”

Mùa Biển Động là một tiểu thuyết dài và hay, được nhiều người biết đến, nhất là tại hải ngoại. Tác phẩm từng được tái bản rất nhiều lần, một sự kiện hiếm hoi trong làng văn nghệ.

Tuy nhiên, sau khi đọc trọn bộ Sông Côn Mùa Lũ, tôi nghĩ rằng: SCML mới là tác phẩm mà ông đã đẩy hết tâm huyết vào đó, trong một giai đoạn cực kỳ đen tối, không chỉ của riêng ông, mà của cả một đất nước.

Nhìn vòng hoa lớn với tên tác phẩm này, phía sau tường, nơi ông đang nằm, tôi nghĩ, không phải không có lý do, mà gia đình ông đã chọn nó, chứ không phải tác phẩm Mùa Biển Động. Với tôi, Sông Côn là quê hương của ông, là nơi sinh ra, là nơi để trở về. Ông sống mấy chục năm ở xứ người, nhưng lòng vẫn đau đáu với con sông của quê hương.

Tôi thắp nén nhang, nguyện cầu linh hồn ông bay về nơi ấy, về lại đất võ Tây Sơn Bình Định, về lại con sông của thuở ấu thời.

Trên đường về, tôi lẩm nhẩm: thêm một ngòi bút lớn đã ra đi.
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Mộng Giác
7/7/2012

(Bài này được đăng lại trên Facebook của Đoàn Nhã Văn ngày 25 tháng 6, 2020, nhân dịp ngày giỗ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Ông mất ngày 2 tháng 7, 2012, thọ 73 tuổi.)

 

Từ khóa tìm kiếm:
Tiễn ông về với sông Côn
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp