Saturday, 23/04/2016 - 10:16:03

Tháng Tư, mừng giải phóng hay bức bối hệ lụy dân tộc? (kỳ 3)

Bài NGUYỄN PHƯƠNG

Cải tạo tư sản sau “giải phóng” không chỉ là kê biên và tịch thu tài sản của những người tư sản giàu có, mà còn nhằm triệt tiêu cả nền kinh tế thị trường, hẳn để tiến đến thiên đường cộng sản xã hội chủ nghĩa nơi tất cả đều là tầng lớp vô sản nhưng “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” như mơ tưởng của Karl Marx.

Bước đầu tiên, sau khi tịch thu tài sản của giới tư bản miền Nam, dĩ nhiên là quốc hữu hóa công xưởng, nhà máy, công ty. Bước thứ nhì là “hợp tác hóa”, thu gom giới sản xuất thủ công nghệ, nông, ngư dân vào những “hợp tác xã”. Trên lý thuyết, mọi chuyện rất hợp lý và công bằng: tất cả cùng nhau sản xuất, thành phẩm được chia theo mức đóng góp. Chưa hẳn là lý tưởng cộng sản “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, nhưng đấy là vì Việt Nam chỉ mới “quá độ” lên chủ nghĩa xã hội thôi, chưa lên được nấc thang thiên đường cộng sản.
Theo trang mạng chính phủ, “cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh miền Nam” xảy ra trong 2 năm 1977-1978. Cùng với chuyển đổi quyền lực, các công ty cũng đổi tên thành “xí nghiệp”, khá mỉa mai vì chữ “xí” có thể hiểu thành nhiều nghĩa không tốt đẹp lắm.

Ngoài các “xí nghiệp” quốc doanh, vẫn còn một tỷ lệ rất nhỏ “xí nghiệp” công tư hợp doanh (498 cơ sở với 13,000 công nhân, chiếm 14.5% số cơ sở và 5.5% số công nhân). Trong loại “xí nghiệp” hợp tác xã, còn một tỷ lệ nhỏ cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh (6% về cơ sở và 5% về công nhân). Hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp thu gom được 71% tổng số lao động thủ công nghiệp của Sài Gòn, nhưng ở các tỉnh chỉ gom được 40%.
Như thế, năm 1978, nhà nước tuyên bố hoàn thành căn bản cải tạo tư sản công nghiệp loại vừa và nhỏ ở miền Nam, nhưng, cũng theo trang mạng chính phủ “việc hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa công thương nghiệp miền Nam chỉ diễn ra hình thức” vì “chỉ xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ trong công nghiệp mà chưa xác lập được quan hệ sản xuất mới”.

Một đánh giá, xác nhận, nghe khá nhẹ nhàng, trên thực chất tạo nên hậu quả nghiêm trọng. Quan hệ sản xuất cũ đã mất, không có quan hệ sản xuất mới, có nghĩa sản xuất và kinh tế không những đình trệ mà còn thụt lùi. Không còn chiến tranh, nhưng sản xuất công nghiệp bình quân thời kỳ 1976-1980 chỉ tăng 0.6% /năm, và tất cả mục tiêu kinh tế của đảng đề ra đều không đạt được.

Đáng chú ý là sản xuất công nghiệp giảm trong năm 1979 và 1980, nhất là công nghiệp trung ương do thiếu nguyên vật liệu, chứng tỏ sự bất lực trong quản lý và điều hành. Trong khi đó, ngành tiểu, thủ công nghiệp phát triển đều nhờ “cơ chế linh hoạt” (tư doanh và lề lối tư bản), và cũng là vì họ có thêm thị trường do các “xí nghiệp” quốc doanh không cung ứng đủ.

Về phía nông nghiệp, tuy đất đai sản xuất ở miền Bắc tăng hơn gấp đôi, và đất ở miền Nam được “hợp tác hóa”, sản lượng lương thực cứ đều đều đi xuống. Tổng sản lượng lúa của miền Nam giảm từ 1.9 triệu tấn năm 1976 giảm phân nửa còn 0.99 triệu tấn năm 1977 rồi lại giảm chỉ còn 0.64 triệu tấn năm 1979. Một phần dĩ nhiên là do thiên tai lũ lụt, nhưng phần chính là do thiếu nguyên vật liệu: hạt giống, phân bón, cơ giới… cộng thêm nông dân không tha thiết cố gắng vì không có sự cật ruột gắn liền trách nhiệm và quyền lợi cá nhân.

Theo trang mạng của chính phủ, trong kế hoạch năm năm 1976-1980, sản xuất phân bón chỉ đạt 28% mục tiêu, mà dĩ nhiên ngay cả 100% mục tiêu cũng chưa thỏa mãn được 100% nhu cầu. Lệnh cấm vận của Mỹ, sự trở mặt của Trung Quốc, Nga Xô Viết quá xa xôi…có nghĩa tìm nguồn nguyên liệu sản xuất càng khó khăn. Giữa lúc này, nhà nước lại quyết định xâm chiếm Campuchia. Đã nghèo đói lại thêm đói nghèo.

Sản xuất lương thực giảm, đa số dân, nhất là dân thành phố, không còn thu nhập nào khác ngoài đồng lương chính phủ, tức là họ phải nương cậy vào hợp tác xã lương thực của chính phủ để mua lương thực hàng ngày. Sài Gòn chẳng hạn, lúc ấy có 4 triệu dân, theo tiêu chuẩn 9kg mỗi người thì phải cần 432 ngàn tấn gạo mỗi năm, thế mà chính phủ chỉ thu được hơn 1 triệu tấn mỗi năm. Một số liệu cho thấy Sài Gòn phân phối trung bình 6kg cho mỗi người dân, tức 288 ngàn tấn gạo mỗi năm, và chắc chắn một phần lớn phải tìm cách chạy vạy riêng không nhờ vào “trung ương”.

Cho dù số liệu ấy là chính xác, số gạo ấy có thể là gạo ẩm, gạo mốc, gạo mọt, không thể tính đủ số kg trên giấy tờ. Ngoài ra, đấy là con số trung bình, có những người sẽ nhận được nhiều gạo hơn những người khác. Người nhận được đủ gạo phải lo cho những người khác trong gia đình, những người không đi làm như người già, trẻ em. Chính quyền muốn hợp tác hóa kinh tế để nêu cao chủ nghĩa “xã hội” sở hữu tập thể, nhưng cuối cùng lại buộc người cần mua phải tìm đến tư doanh, người muốn bán phải buôn lậu, bán chợ đen ngoài lề luật pháp.

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp