Wednesday, 20/04/2016 - 09:56:26

Tháng Tư, mừng “giải phóng” hay bức bối hệ lụy dân tộc? (Kỳ 2)

Nguyễn Phương

Ngay sau tháng 4 năm 1975, “giải phóng” đối với đa số dân miền Nam là mất tự do với những chính sách kiểm tra đi lại, ăn ở của người dân như sự bắt buộc phải đăng ký hộ khẩu, sự có mặt của công an ngay trong khu phố của mình. Chẳng những mất tự do, nó còn là tù tội cho những sĩ quan quân lực miền Nam, nhiều người đã không thể sống sót nổi những trại “cải tạo” trong ấy họ thường bị đói và bệnh cho đến chết. Ý nghĩa “giải phóng” với dân miền Nam, đầu tiên là giải phóng của cải. Dân miền Bắc tràn vào, một số dùng tình thân, liên hệ họ hàng để xin xỏ, nhưng phần lớn dùng vị thế “phe chiến thắng” của mình để hù họa, gần như cướp giật những tài sản lớn nhỏ của “miền Nam thân thương”.

Cuộc giải phóng tài sản của dân miền Nam hiệu quả nhất diễn ra qua hai chương trình: đổi tiền và “kê biên tài sản” (hay thông thường hơn là “đánh tư sản mại bản”). Chính quyền chỉ cho dân miền Nam 12 giờ đồng hồ từ 11 giờ sáng đến 11 giờ đêm ngày 22/9/1975 để đổi tiền. Mỗi gia đình chỉ được đổi 100 ngàn đồng Việt Nam Cộng Hòa thành 200 đồng mới. Công ty chỉ được đổi 500 ngàn đến 1 triệu đồng tiền miền Nam. Số còn lại “gửi” vào ngân hàng nhà nước, đến đầu năm 1976 được rút mỗi tháng 30 đồng, nhưng đến tháng 12/1976 thì bị cấm rút tiền hẳn. Có nghĩa nhà tư sản giàu nhất cũng chỉ lấy được tối đa chưa đến 4000 đồng “mới”, tức 2 triệu đồng Việt Nam Cộng Hòa. Có nhiều gia đình không dám mang tiền ra đổi hay ký gửi vì sợ bị điểm mặt “giàu”. Tiền ký gửi trong ngân hàng trước “giải phóng” cũng hầu như không rút ra được. Một phần tài sản miền Nam đã được giải phóng và bốc hơi không còn tăm tích.
Kê biên tài sản, hay cải tạo tư sản, hay đánh tư sản, là một hình thức triệt tiêu tài sản miền Nam và cả nền kinh tế thị trường trước “giải phóng”. Cũng trên báo Tuổi Trẻ (Việt Nam), có một loạt bài khác về việc này (“Kê biên tài sản”), từ lời kể của nhà báo Đình Phong, lúc ấy thuộc Đài truyền hình Sài Gòn. Bài đầu tiên trong loạt bài này xác minh ngay quan điểm rằng việc làm này là chuyện lẽ ra không nên xảy ra với lời lẽ đầy hối tiếc: Đó là một thời điểm khó quên nhưng ai cũng muốn quên.

Chính quyền xác định vị thế đối địch với tầng lớp tư sản ngay từ đầu cuộc “cải tạo” này, mật danh là Chiến dịch X2, với sự thành lập gấp rút và bí mật những tổ công tác và danh sách những gia đình có của cải cần “cải tạo” và “kê biên” (khoảng 20 ngàn theo con số của trang mạng chính phủ). Những gia đình này chỉ được biết họ cần “kê biên” tài sản khi những tổ công tác này thình lình xuất hiện, đợt đầu tiên là vào đầu tháng 9/1975, chỉ mấy tuần trước ngày đổi tiền. Chuyện thông thường sau đó là toàn bộ tài sản của họ bị niêm phong, hơn nữa họ còn nhận được quyết định “đi xây dựng vùng kinh tế mới”, tức là vừa bần cùng hóa tư sản vừa buộc tư sản trở thành giao cấp nông nhân đúng nghĩa. Tuy nó na ná như cuộc Cách mạng văn hóa từng xảy ra ở nước đàn anh Trung Quốc vào giữa thập niên 1960, và cuộc “cải cách ruộng đất” ở miền Bắc vào đầu thập niên 1950 có cả đấu tố và xử tử, nó “hiền lành” hơn một chút, phần lớn chỉ lấy của mà tha cho mạng sống.

Theo thông tin chính thức của nhà nước, trước “giải phóng”, Sài Gòn đã có một cơ sở vật chất, kinh tế kỹ thuật lớn nhất miền Nam, tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp của cả miền Nam, với 38.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ty và 8.548 cơ sở công nghiệp tư nhân. sau năm 1975 chính quyền cách mạng đã tiến hành vận động hai đợt cải tạo công thương nghiệp. Kết quả là đã quốc hữu hóa tài sản của 171 tư sản mại bản, 59 tư sản thương nghiệp cỡ lớn, khôi phục 400 xí nghiệp quốc doanh, 14.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, thu hút 27 vạn công nhân và lao động, vận động hồi hương lập nghiệp và từng bước phân bố lại lao động. Trong thông tin này, “vận động hồi hương lập nghiệp” rõ ràng để chỉ chuyện vận động, đúng hơn là gần như bắt buộc, những người trong diện “cải tạo” đi kinh tế mới”. Nó cũng cho thấy tầm mức triệt để của “cải tạo”, rà soát xuống tận các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, nơi chủ nhân không thể nào được liệt vào thành phần tư bản cỡ lớn được.

Cũng cần chú ý là các tư bản “gộc” và không đội trời chung với nhà nước đã lo tháo chạy gần hết, như bài trên báo Tuổi Trẻ xác nhận: thành phố chỉ còn các doanh nghiệp loại vừa như chủ nhà in, chủ các xưởng thủ công, các cửa hàng... Như thế, số tư bản còn lại, hoặc là không đủ “bự” để tháo chạy, hoặc là cảm thấy thể chế nào cũng thế, họ chỉ làm ăn buôn bán, không dính đến chính trị quân sự thì không phải sợ “giải phóng”, hoặc họ chính là những người thuộc phe “giải phóng”, bao năm qua đã dùng lợi nhuận và cơ sở làm ăn của mình để tiếp tay “giải phóng”. Những người thuộc nhóm cuối cùng này hẳn không bao giờ ngờ đến họ sẽ vào danh sách “cải tạo” thay vì danh sách ân nhân. Họ có thể, nếu có người trong chính quyền “bảo lãnh”, thoát số phận “đi kinh tế mới”, nhưng không thể tránh chuyện mất tài sản, qua hình thức tự động sung công hay “cải tạo” cũng thế. Dĩ nhiên cũng có một số được báo trước và giấu bớt của cải, chờ thời bỏ đi ngoại quốc hoặc tái gầy dựng cơ nghiệp.

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp