advertisements
Thursday, 10/02/2022 - 09:34:13

Tháng giêng nhớ mẹ têm trầu


Hoa xuống phố (Nguyên Quang/ Viễn Đông)











Bài NGUYÊN QUANG

Đầu năm, tục đi chợ đầu năm có tự bao đời, dường như chẳng ai có thể ước định được rằng tục này có từ thời nào. Nhưng chắc chắn một điều, đi chợ đầu năm là cách để người ta khởi sự bước vào thị trường, bước vào cuộc chơi mua - bán của nhân quần. Và khi bước vào cuộc chơi gay cấn này, yếu tố may mắn luôn chiếm vị trí rất cao, nó quyết định thắng lợi, hạnh phúc hay thua lỗ, đắng cay. Chính vì vậy mà người ta chỉ chọn mua lộc, mua trầu, cau, mua gạo muối, mua thêm trái dưa hấu trong buổi chợ này, hoặc có người chọn mua cá lóc, cái giống cá mà ở Mỹ gọi là “yêu quái” khi nói về sức sống của nó. Đầu năm đi chợ, chắc cũng có đôi người ngậm ngùi, nhớ hình ảnh mẹ ngồi têm trầu giống tôi!


Miếng trầu ngày xưa

Tôi xin mở ngoặc chỗ này, mẹ tôi còn mạnh khỏe, chỉ có ngoại tôi qua đời, nhưng với tôi, bà ngoại là người mẹ, một người mẹ gần gũi với tôi nhiều hơn mẹ tôi, nên khi đi chợ đầu năm, nhìn cảnh một vài người phụ nữ lúi húi têm trầu để bán, tự dưng tôi bùi ngùi nhớ bà ngoại, bởi hình như hồn vía của cái thời người phụ nữ têm trầu, trầm chậm, tỉ mẫn và như thể nhập hồn vào miếng trầu đã không còn, cách têm bây giờ có phần thị trường, có gì đó vội vã với bon chen.


Têm trầu giờ không giống như xưa (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Tôi nhớ thời của bà ăn trầu, têm trầu, dường như mọi việc diễn ra giống với cách bây giờ người ta hành thiền, nhất là Thiền Hành của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, người vừa viên tịch. Mọi thứ dường như thấm đẫm suy tư, thấm đẫm cả không suy tư và mang mang dấu ấn của tuổi đời, thời gian và cả không thời gian trong ấy. Một ông bình vôi, một ít vỏ cây chay, một nhánh cau có vài trái cau giầy (cau vừa tới nước già, chưa quá già, ruột mềm, trong, giữa ruột và hạt bắt đầu có một lớp vỏ lụa bọc hạt để người ta có thể gở hạt khỏi vỏ nhưng không quá tách rời. Cau già quá thì đắng, non quá thì lạt, chưa đủ quyện với trầu, gọi là ăn không đủ phê…), vài lá trầu không.

Chỉ riêng chuyện chọn trầu, cau, vôi không thôi, với người xưa, điều ấy giống như đang thực hành tôn giáo chứ chẳng đơn giản tí nào. Trầu được phân ra thành nhiều loại, đương nhiên rồi, trầu có trầu hương, trầu bân, trầu giã, trầu trắng, trầu vàng, trầu xanh, trầu tím… Trầu leo gốc cau thì mùi vị thơm ngon, dịu, trầu leo tường vôi cổ thì đậm, hắc nhưng rất đặc biệt, trầu leo tường xi măng thì khô khốc, tệ nhất trong hàng trầu. Và trong cùng một gốc trầu, giàn trầu, có đến hai loại trầu, trầu vấp và trầu lương, trầu lương dùng để têm, trầu vấp dùng để nhân giống chứ không ăn được. Trầu lương là trầu cái, trầu vấp là trầu đực. Dây trầu lương thì những ai ăn trầu đều biết, thân mập mạp, màu xanh, gấp khúc, săn chắc và cho lá lớn, xanh, mơn mỡn. Ngược lại, trầu vấp thân màu tím, lá màu tím sậm trông giống như lá khoai lang tím và lá dày, nhìn không thôi cũng biết độ dữ, độ cay của nó. Thân trầu vấp suông, thẳng và có nhiều rễ, người ta dùng để trồng, nhân giống. Đến tuổi thì trầu vấp lại đẻ trầu lương, cũng như đến tuổi, đến mùa thì trầu lương lại đẻ trầu vấp.


Trầu têm để bán về thờ, cúng... (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Cau, có rất nhiều loại cau, nhưng hai loại cau được chọn ăn trầu là cau cơm và cau bầu, tức cau tứ quí, cau cơm trái nhỏ hơn cau tứ quí nhưng có độ ngọt cao, thường được dùng để têm trầu, ăn với vỏ chay. Thời xưa bổ cau không như bây giờ, nếu bổ như bây giờ thì các cụ gọi là bổ bã chứ chẳng phải bổ cau. Một trái cau được hái ra khỏi nhánh, người ta tước bỏ đế cau, tức cùi, sau đó dùng dao tước nhẹ lớp vỏ, theo hướng từ núm xuống, chừa lại một cái núm cau nho nhỏ, sau đó dùng dao khía cho núm rời khỏi trái, hiện ra một phần hạt và bắt đầu bổ làm sáu miếng đều nhau. Dao bổ cau phải sạch, chỉ cần dao hơi bẩn thì lát cau nhanh chóng chuyển sang màu xám. Trầu têm cũng giống hành thiền vậy, lá trầu lương chẻ làm đôi, bệt một ít vôi lên mặt sau của lá và têm, têm đủ thành miếng trầu thì dùng mũi nhọn của chìa vôi châm một lỗ, lận cuốn trầu vào đó, người khéo tay tem miếng trầu nhìn tươi rói, xanh mỡn. Người mới têm lần đầu thì miếng trầu bầm dập, xám ngoét.

Phụ nữ hay đàn ông ngồi lại nói chuyện với nhau, nhất là trong hôn nhân, tử tức, người ta ngồi lại nhai miếng trầu bỏm bẻm, nói chuyện, bàn chuyện này chuyện nọ, và khi ngồi ăn trầu với nhau, cho dù giận nhau trước đó, đã cầm lấy miếng trầu của nhau là xem như mọi mâu thuẫn trước đã được rũ bỏ, cả hai cùng bước vào đạo trầu cau. Cái tình cảm đặc biệt chỉ có ở văn hóa trầu cau dường như trở thành điều gì đó quá hiếm hoi và xa vắng thời bây giờ.


Người têm trầu tâm sự


Mê già ngồi bán trầu cau ven đường ở Phú Lộc Huế ngày Tết (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Mồng Bốn Tết, tôi đưa bà xã đi chợ mua sắm đầu năm. Cũng theo tục lệ người xưa, nàng mua một bịch muối, một nhánh trầu và một nhành cau, một ít trái cây như dưa hấu, mãng cầu. Tôi đặc biệt chú ý người têm trầu ở trước sân chợ. Trời lạnh, bà vận chiếc áo ấm màu đen, têm trầu tỉ mẫn, chăm chú, nhưng hàng trầu của bà chẳng mấy ai ghé, bà xã tôi nhắc khéo, nói bà cởi chiếc áo ấm, lật ngược màu xanh bên trong ra ngoài mà mặc thì mới có khách, bởi đầu năm đi mua lộc, người ta nhìn thấy màu đen nên ngại. Y vậy, chưa đầy mươi phút sau, hàng trầu của bà đông khách, người mua nườm nượp. Bà mừng rỡ, “Cảm ơn cô, cô trẻ mà tinh tế quá, thật là mừng!”

“Dì bán trầu đầu năm lâu chưa dì ơi? Ngày thường dì có bán trầu cau không?”

“Thường thì đến dịp Tết dì mới đi bán trầu cau, ngày thường dì làm ruộng, rồi đi làm thuê đủ các công việc. Có lúc dì đi nấu ăn thuê, cũng có lúc đi ở đợ nữa. Mình nghèo, gặp gì có tiền mà sạch sẽ lương tâm thì làm thôi. À, mà mình đã nghèo, không quyền thế thì chắc chắn chỉ gặp công việc sạch sẽ lương tâm thôi! (cười). Trung bình cái Tết dì đi bán năm ngày, từ sáng Mồng Một bán ở cổng chùa, đến sáng mồng Ba thì ra chợ, bán cho đến mồng Năm, có khi mồng Bảy, kiếm cũng được vài triệu đồng, có khi hơn cả hai tháng lương đó! À, dì bán cũng được mười năm nay.”


Một gian hàng bán trầu, cau, muối ngày Tết (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Dì thấy bây giờ người ta têm trầu có giống như hồi xưa không? Dì học têm trầu này từ ai?”

“Hồi mẹ của dì còn sống, bà dạy cho dì, ngày xưa thì ai cũng biết têm trầu, têm đẹp, têm khéo tay, thậm chí têm trầu cánh phượng giống như làng quan họ Bắc Ninh ở ngoài Bắc nữa kia, còn bây giờ thì người ta têm không đẹp bằng, têm để cúng chứ không phải têm để ăn như trước đây. Giờ còn mấy ai ăn trầu đâu, người già họ cũng không ăn, bởi ăn trầu ngó vậy chứ không đơn giản đâu!”


Khó tìm thấy bình ông vôi như ngày xưa mẹ ngồi têm trầu (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Ăn trầu có gì phức tạp vậy dì?”

“Nói phức tạp thì không, nhưng ăn trầu giống như cái đạo, cái tôn giáo vậy, tôn giáo mà không có đồng đạo, không có đạo hữu thì chẳng còn tôn giáo, ăn trầu mà ngồi một mình ăn thì quá buồn, chẳng ai ăn đâu, người ta chọn ăn bánh ngọt hoặc ăn vặt thứ gì đó thay cho ăn trầu. Ăn trầu phải có bạn bè, phải có những người già ngồi lại với nhau, bàn chuyện, rỉ rả. Thấy ăn trầu vậy chứ rất đặc biệt đó, mấy người tám chuyện, nhiều chuyện chẳng bao giờ có thể ngồi ăn trầu với nhau, chỉ những người tử tế mới ngồi ăn trầu với nhau lâu được thôi!”


Lá trầu lương, cau cơm ngày Tết (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Nghĩa là sao hả dì?”

“Bởi ăn trầu, thứ quan trọng nhất chính là nước trầu và bã trầu, khi vôi, trầu, cau, vỏ chay quyện vào nhau, sẽ cho nước trầu màu đỏ, muốn đỏ, ngon, người ta phải nhai kĩ, nhai nhẹ, chậm, y như đang hành thiền, phải tập trung và cảm được mức độ chuyển hóa của các thành phần trong nước trầu, mà cảm bằng lưỡi nghe con. Trầu mà ăn không tập trung thì nước trầu bị ối, gây say lăn lóc chẳng kém gì say thuốc lào, say rượu đâu. Chính vì vậy mà khi ăn trầu, người ta vừa tập trung lại vừa nghĩ tới điều tốt đẹp, lương thiện. Người ta còn nhòm nước trầu của nhau mà đoán tính cách đó.”


Một góc chợ đầu năm (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Dì từng ăn trầu như vậy chưa?”

“Có chứ, hồi bà mẹ dì còn sống, thỉnh thoảng bà rủ dì cùng ăn trầu với các cụ trong xóm, họ thấy dì trẻ mà biết têm trầu, họ cũng vui vì có người trẻ cùng ngồi ăn. Mà hầu hết các bà ngồi ăn trầu là giống như thiền định vậy, chẳng mấy ai nói chi.”

“Dì có ngồi thiền lần nào chưa mà nãy giờ con nghe dì hay nhắc tới thiền định?”

“Có, dì hành thiền, dì mới thấy rằng những người ngày xưa hành thiền tốt hơn bây giờ bởi đời sống hồi xưa ít xô bồ, và người ta tập trung cao độ hơn, sống an lạc hơn, không nặng về các vấn đề vật dục, chùa chiền cũng nhẹ nhàng, thanh thoát hơn… Còn bây giờ, thế hệ trước hầu hết qua đời, còn lại vài người, chẳng mấy ai ăn trầu và hành thiền như xưa. Đời sống bây giờ năng động quá, không đuổi theo kịp là tuột lại đằng sau, nên người ta chạy đua, đâm ra mọi thứ lộn xộn…”


Người bán vẫn còn nhưng người ăn chẳng thấy đâu! (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Nói tới đây, người phụ nữ bán trầu đầu năm trầm ngâm, mắt đượm buồn, hình như bà xã tôi cũng đượm buồn, một chút buồn thanh thoát và dịu vợi đầu năm, buồn mà không thảm, bởi nỗi buồn mang chút hoài niệm, hoài vọng về điều gì đó thiện lương, cao thượng và đẹp đẽ một thuở. Nó đã vắng dần trong xã hội này, nó làm ta ngồi nhớ miếng trầu mẹ têm, trầm lắng, lặng lẽ mà chất nặng đất trời và tâm hồn thanh tân cõi người, tràn đầy nguồn năng lượng yêu thương của một xã hội tử tế, đáng yêu và hồn nhiên cỏ cây.

Từ khóa tìm kiếm:
Tháng giêng nhớ mẹ têm trầu
Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements