Saturday, 08/08/2015 - 01:58:45

Quê hương qua ống kính: Lũy Thầy

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Thành lũy cổ ở Việt Nam thường gắn liền với tên địa danh hay tên một triều đại, như thành Cổ Loa,(1) Nhà Hồ,(2) thành Kẻ Hạ,(3) thành Quảng Trị,(4) thành Hóa Châu (Thừa Thiên), Châu Sa (Quảng Ngãi), Đồ Bàn,(5) v.v.. Riêng lũy Thầy thì khác, Thầy không phải địa danh, không phải tên người mà là chức vị: Thầy (giáo). Đến nay đa số lớp trẻ không rõ điều này do "dạy và học" không màng đến lịch sử nước nhà.(6)

“Lũy Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu

Đó là hai câu ca dao mà bất cứ người dân Quảng Bình nào cũng thuộc. Sông Gianh và lũy Thầy là phòng tuyến chận quân Đàng ngoài suốt mấy mươi năm Trịnh Nguyễn phân tranh. Lũy Thầy gắn liền với nhà quân sự tài ba Đào Duy Từ. Ông là người xã Hoa Trai, huyện Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Lũy Thầy là một hệ thống gồm ba lũy do Đào Duy Từ và con rể Nguyễn Hữu Tiến trực tiếp chỉ huy xây dựng:

Lũy Trường Dục

Được xây dựng vào năm 1630 từ núi Thần Đinh(7) men dọc theo bờ sông Long Đại, qua các làng Trường Dục, Xuân Dục, Cổ Hiền, chạy vòng xuống đến làng Bình Thôn, Quảng Xá rồi đến vùng động cát đầu phá Hạc Hải.(8) Lũy được đắp bằng đất sét chân lũy rộng 6m, dài 10 km, cao 3m. Lũy Trường Dục nay thuộc huyện Quảng Ninh.

Lũy Nhật Lệ (Trấn Ninh - Đông Hải)

Cầu Long Đại núi Thần Đinh (Trần Công Nhung/Viễn Đông)



Đến năm 1631, chúa Nguyễn tiếp tục cho xây lũy Động Hải cách lũy Trường Dục 20 km về phía Bắc. Lũy cao tầm 6m, dài hơn 12 km, phía ngoài được đóng cọc bằng gỗ lim, phía trong đóng cọc tre, đổ đất lên 5 tầng cấp, voi ngựa có thể đi được. Cứ cách 12 đến 20 mét lại xây một pháo đài đặt súng thần công, cách một trượng (4 mét) lại đặt một súng phóng đá. Lũy Nhật Lệ (Động Hải Trấn Ninh) được chia làm hai đoạn:
Đoạn thứ nhất chạy từ núi Đầu Mâu, dọc theo nam sông Lệ Kỳ ra đến cầu Dài ở phía nam Đồng Hới. (Đoạn này còn gọi là lũy Đầu Mâu)

                                         Cửa Nhật Lệ và Lũy Thầy (Trần Công Nhung/Viễn Đông)


Đoạn thứ hai tiếp nối với lũy Đầu Mâu, chạy từ cầu Dài, vòng sang phía Tây thành Đồng Hới, bọc lấy làng Đồng Phú, qua Hải Thành ra đến cửa sông Nhật Lệ.
Lũy Nhật Lệ nay thuộc địa phận các xã Phú Hải, Đồng Phú, Hải Thành (thành phố Đồng Hới). Lũy Nhật Lệ dài 3000 trượng (12km) từ Đầu Mâu đến cửa Nhật Lệ hiện nay chỉ còn lại 3 cửa:
- Cửa Tấn Nhật Lệ

Sơ đồ hệ thống lũy Thầy (Trần Công Nhung/Viễn Đông)




- Cửa Lý chính Đại quan môn, sau đổi là Võ Thắng Quan, còn gọi là cổng Thượng. - Cửa vào Dinh Quảng Bình còn gọi là Quảng Bình Quan. Trong ba cửa, Quảng Bình Quan là được xây dựng kiên cố và cao lớn đồ sộ nhất, nhằm tăng cường thêm sức mạnh phòng thủ và tiện cho dân chúng đi lại trong thành. Quảng Bình Quan được vua Minh Mạng cho xây dựng lại bằng gạch đá vào năm 1825. Cổng có kích thước dài 2 trượng 1 thước (8.4m), rộng 2 trượng 5 thước (10m), cao 5 thước (2m).
Các thành lũy ngày xưa thường bố trí 4 cửa theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc: Tiền, Hậu, Tả, Hữu; duy thành này chỉ có 3 cửa (cửa Tả, Hữu, Hậu, không có cửa Tiền). Đây cũng là một điểm rất khác lạ về cấu trúc của thành lũy.

                                                  Cửa Tấn Lệ (Trần Công Nhung/Viễn Đông)

 

Ghi về cửa này, sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Cửa quan dài 2 trượng 1 thước; ngang 2 trượng 5 thước; thành ngoài che chắn hộ vệ, cửa quan dài 14 trượng 6 thước, cao 3 thước. Năm Minh Mạng thứ 6 xây bằng đá; năm thứ 7 (1826), đặt tên Quảng Bình Quan; năm thứ 17 đúc xong Cửu đỉnh, lấy hình tượng cửa thành khắc lên Nghị đỉnh.”

                                                 Dấu tích Cửa Tấn Lệ (Trần Công Nhung/Viễn Đông)

Năm Thiệu Trị thứ nhì, xa giá Bắc tuần, qua Quảng Bình Quan, nhà vua có thơ ngự chế chạm vào đá, sai dựng nhà bia ở bên ngoài cửa thành để lưu niệm.
Ngày nay Quảng Bình Quan đã được trùng tu tôn tạo lại đẹp đẽ, uy nghi ngay cạnh quốc lộ 1A qua trung tâm thành phố (đường Quang Trung) cách Cầu Dài chừng vài trăm mét về phía Bắc. Quảng Bình Quan là di tích lịch sử hàng đầu của Quảng Bình không dùng để qua lại mà dành cho du khách chiêm ngưỡng.

Lũy Trường Sa

Năm 1634, Chúa Nguyễn lại sai tướng Nguyễn Hữu Dật tổ chức đắp lũy Trường Sa (Lũy Đồng Hới), dài 7 cây số chạy dọc ven biển, từ Sa Động xã Hải Ninh (huyện Quảng Ninh) đến Huân Cát (Bảo Ninh hữu ngạn sông Nhật Lệ ngày nay).
Hệ thống này gồm bốn tòa lũy, trong đó hai lũy Nhật Lệ và Trường Dục được xây trong giai đoạn 1630-1631 dưới sự chỉ huy của Đào Duy Từ, còn hai lũy kia do học trò của ông là tướng Nguyễn Hữu Dật thực hiện (1634, 1661).
Trong suốt cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn, lũy Đào Duy Từ đã phải chống trả nhiều cuộc tấn công ác liệt từ Đàng Ngoài của quân Trịnh và chưa bao giờ bị thất, ngược lại đã giáng cho quân Trịnh nhiều đòn đau.
Năm 1633, chúa Trịnh Tráng kéo quân đến cửa biển Nhật Lệ dàn trận, bị quân chúa Phúc Nguyên đánh cho đại bại, quân Trịnh hoảng loạn vứt bỏ xe pháo chạy về Bắc.
Năm 1648, chúa Trịnh Tráng lại sai Lê Văn Hiểu đem quân tấn công phục thù, quân Nguyễn do cha con Trương Phúc Phấn chỉ huy cố thủ tại lũy Trường Dục. Thế tử Phúc Tần và Nguyễn Hữu Tiến mang quân ra Quảng Bình cứu viện và đã đánh tan quân Trịnh. Quân Trịnh thua to: ba tướng cao cấp và 3,000 lính bị bắt làm tù binh.



                                    Võ Thắng Quan (Trần Công Nhung/Viễn Đông)

Năm 1672, chúa Trịnh Tạc lại dồn toàn lực đánh vào Đàng Trong sau khi đã diệt được họ Mạc ở Cao Bằng (1667). Trịnh Căn chỉ huy thủy binh, Lê Thì Hiến bộ binh. Với lực lượng hùng hậu như thế, quân Trịnh đã tiến đánh vào lũy Nhật Lệ do Nguyễn Hữu Hiệp chỉ huy, cùng nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Mỹ Đức ra chống cự, chúa Phúc Tần đích thân tiếp ứng. Đây là trận giao chiến ác liệt nhất trong lịch sử Trịnh Nguyễn phân tranh. Quân Trịnh dồn toàn lực, đánh lũy mấy lần vẫn không hạ được Nguyễn Hữu Dật đành phải rút về Bắc Bố Chính.
Vua Thiệu Trị đi qua hệ thống Lũy Thầy hùng vỹ này rất khâm phục trước công lao Tổ Tiên, đã ban cho lũy này tên mới là "Định Bắc trường thành" (bức tường thành giữ yên mặt Bắc).
Mới đây tình cờ đọc được bài viết về Lũy Thấy trên báo Giáo Dục online (Thứ Ba, 5 Tháng tư 2011) có bài nói về Lũy Thầy làm tôi vui bất ngờ.
“Lũy Thầy - 400 năm còn một chút này,” trong bài có đoạn: “Đến năm 1994, Lũy Thầy được phục hồi lại nguyên trạng và Quảng Bình Quan đã được Nhà nước công nhận là di tích Quốc gia vào năm 1992. Ban đêm, đèn thắp sáng, nhìn Quảng Bình Quan rất đẹp...”
Đồng Hới Quảng Bình không lạ gì đối với tôi, do là nơi chôn nhau cắt rốn nên khi có diều kiện trở lại quê nhà, tôi đã đi thăm, tìm hiểu gốc gác của mình khá nhiều: Núi Thần Đinh, Suối Bang, thành Kẻ Hạ, Bơi đua Kiến Giang, Ghềnh Đá Nhảy, Linh Miếu Cảnh Dương, động Phong Nha, động Thiên Đường và tất nhiên không thể thiếu Định Bắc Trường Thành, một hệ thống chiến lũy được gọi với tên thân mật là Lũy Thầy.

                                           Lũy thầy ngay nay (Trần Công Nhung/Viễn Đông)


Năm 2002, tôi nhờ anh bạn nhiếp ảnh, anh Võ Hữu Ngụ đưa đi xem những gì Lũy Thầy còn lại. Tôi theo anh quanh co qua mấy đường làng, qua một cầu sắt, đến một đường đê cao hơn mặt ruộng chừng 1 mét, rộng cũng bấy nhiêu, cây bạch đàn um tùm. Dừng lại, anh cho biết đây là một đoạn của Lũy Thầy. Tôi thật không ngờ, ngày xưa lũy cao 3m, mặt rộng 6m, bây giờ không hơn gì bờ ruộng và rồi ngày càng teo do người dân xén bớt dần. Đi về hướng Tây một đoạn, gặp một cổng thành thật xưa, rêu đã phủ đen, anh Ngụ bảo “đây là Võ Thắng Quan,” một trong ba cửa của Lũy Thầy. Cổng trông cũng còn vững chắc, tuy nhiên, gạch hai bên đã bị gỡ khá nhiều. Hỏi chuyện bác nông dân gần đấy, bác cho biết đêm bác ra ngủ canh ở đây. Bác nói gạch bị gỡ là do ngày Tết dân chúng lấy về làm bếp nấu bánh tét.(!)
Sau đó tôi trở lại Đồng Hới tìm “cửa Tấn Nhật Lệ.”


                               Lũy Thầy dọc bờ Nam sông Long Đại (Trần Công Nhung/Viễn Đông)

Theo một số tài liệu thì “cửa Tấn Nhật Lệ” nằm trên đường Quách Xuân Kỳ, thực tế là ở đầu ngỏ 77 đường Trương Pháp. Đây chỉ là một ngọn đồi cao cây xanh phủ kín. Trên đỉnh đồi có tháp hải đăng. Thử xem “di tích” còn gì thì thấy toàn công trình mới xây. Mấy bậc cấp lên đồi trơ gạch cũ, nhưng cũng không chắc dấu tích của thành lũy xưa. Dưới chân đồi, sát lề đường có bia ghi: “Phòng tuyến Nhật Lệ được xây dựng vào năm 1631 có chiều dài 12km, cao 6m, rộng 6m thuộc hệ thống lũy Đào Duy Từ.
Nơi đây đã từng diễn ra các cuộc giao tranh quyết liệt của hai thế lực Phong Kiến Trịnh Nguyễn trong gần 50 năm của cuộc nội chiến.”(10)
Hỏi bạn, “Lũy Thầy được phục hồi lại nguyên trạng” chỗ nào, anh bảo “phục hồi gì đâu, chắp vá lại Quảng Bình Quan thì có.”
Với lịch sử, Đào Duy Từ là một thiên tài không những về thao lược quân sự mà ông còn là bậc uyên bác về thơ ca nhã nhạc. Những công trình và những tác phẩm của ông người đời sẽ tôn vinh nhớ mãi. Điều ai cũng thấy là ông có thực tài, tài ông vượt hẳn trên mọi người, phường đối nghịch cũng phải khâm phục. Không như kẻ vô tài bất tướng, bằng cấp “dỏm giả,” tiền nhiều chức lớn, nắm quyền chỉ để bức hiếp dân lành.

                                          Quảng Bình Quan (Trần Công Nhung/Viễn Đông)

Ngày nay, Lũy Thầy không còn nguyên vẹn như thời xưa, nhiều đoạn đã bị mất hẳn do thời gian bào mòn và chiến tranh tàn phá, và do chính chúng ta, nhiều thế hệ đi qua không biết bảo tồn, ngược lại, phá của công làm của tư. Với nền giáo dục hiện nay (hồng hơn chuyên) thì rồi những “di tích trong sách đỏ” sẽ biến mất một ngày không xa.
Trần Công Nhung (2015)
(1) Cổ Loa trang 137 QHQOK tập 1
(2) Nhà Hồ trang 53 QHQOK tập 6
(3) Đồ Bàn trang 177 QHQOK tập 8
(4) Quảng Tri trang 27 QHQOK tập 13
(5) Kẻ Hạ trang 146 QHQOK tập 15
(6). Lời của một “quan chức lớn” ở bộ giáo dục: “Học sinh thi tốt nghiệp 95% sử điểm 0 là chuyện bình thường”(chỉ cần thuộc Karmark Lenine là trị quốc!)
(7) Núi Thần Đinh trang 135 QHQOK tập 10
(8) Phá HH nay là ruộng lúa, chỉ còn con sông nhỏ chảy qua cánh đồng Hoa Thủy (lệ Thủy)
(9) Bơi đua trang 190 QHQOK tập 12
(10) “Đến năm 1994, Lũy Thầy được phục hồi lại nguyên trạng và Quảng Bình Quan đã được Nhà nước công nhận là di tích Quốc gia vào năm 1992. Ban đêm, đèn thắp sáng, nhìn Quảng Bình rất đẹp” (http://www.giaoduc.edu.vn/news/du-lich-709/luy-thay-400-nam-con-mot-chut-nay-158878.aspx)
(11) Bia ký có “foot note” ngày công nhận... tôi thấy điều này đôi khi vô nghĩa, thứ nhất là tư cách người công nhận, thứ hai có những di tích cổ (đúng nghĩa) đem phá bán, làm mới rồi công nhận (chùa trăm gian Hà Tây). Cây quí trăm năm chặt bán gỗ, trồng cây mới công nhận “sạch đẹp”. Ngay nhóm chữ “hai thế lực phong kiến” cũng hàm ý mạ lị, hận thù, sao không ghi như sử đã ghi “giữa Đàng trong và Đàng ngoài,” “giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn,” hoặc “giữa hai phe Trịnh Nguyễn” có phải nhẹ nhàng nhân bản hơn không.
Liên lạc với tác giả qua email: trannhungcong46@gmail.com

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp