advertisements
Saturday, 12/03/2016 - 12:52:22

Phượng Hoàng Trung Đô (kỳ 1)

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Qua 4000 năm lịch sử, ông cha chúng ta đã làm nên bao công trạng lẫy lừng hiển hách, nhất là công cuộc chống ngoại xâm giữ nước. Muôn trùng di tích lưu lại đến hôm nay. Ải Chi Lăng, phòng tuyến Như Nguyệt, cọc gỗ Bạch Đằng, gò Đống Đa,(1) không sao kể xiết. Đó là những hào quang của Tổ Quốc phát ra từ những anh hùng đích thực chứ không do phe nhóm tuyên truyền dựng lên bắt người khác tôn thờ.
Nhưng cũng là điều bất hạnh cho con cháu khi đi tìm lịch sử, do tâm lý độc quyền chuyên chế của người xưa: khi giành được quyền trị quốc thì việc đầu tiên là tìm cách tận diệt mầm móng của triều đại trước. Thông thường là đào mồ cuốc mả đem hài cốt giam vào ngục thất, hay đổ xuống sông,(2) tru di tam tộc,(3) v.v..

Đền thờ Hoàng Đế Quang Trung (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Không nói đâu xa, 40 năm trước khi người miền Bắc (CS) vào chiếm miền Nam, biết bao “tang thương ngẫu lục,” bao kiếp đọa đày mãi mấy mươi năm, chỉ để giữ thế độc tôn...

Do lòng người như thế nên khi Quang Trung Nguyễn Huệ lên ngôi, việc đi tìm cho mình một cuộc đất để dựng đô, một huyệt mộ để an nghỉ, không ai biết... Đến nay vấn đề “mộ Quang Trung” đang còn tranh cãi tìm kiếm, nhưng di tích kinh đô thì đã được xác định và phục dựng từ năm 2005: Phượng Hoàng Trung Đô.

Hiện nay, dưới chân núi Dũng Quyết vẫn còn lưu dấu vết tích của Phượng Hoàng Trung Đô, theo sách La Sơn Phu Tử, thành nội có bờ nam dài 300 m, bờ tây dài 450 m. Hai vách thành ở phía đông và bắc dựa vào dãy núi Phượng Hoàng và Kỳ Lân. Bờ thành được xây bằng đất với chiều cao khoảng 20m. Giữa thành có tòa lầu 3 tầng, phía trước có bậc tam cấp xây bằng gạch đá ong, phía sau có hai hành lang nối với điện Thái Hòa. Xung quanh thành có các đồn. Nối với thành bờ nam ở khu vực núi Kỳ Lân có vọng gác chính và phía núi Phượng Hoàng có kho lúa.

Tượng Quang Trung ở Qui Nhơn (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Thời gian xây cung điện này kéo dài trong khoảng 4 năm (từ năm 1788 đến 1792), giữa khoảng thời gian ấy công cuộc xây dựng gặp nhiều khó khăn khách quan, như đói kém mất mùa ở vùng Nghệ An, cuộc chiến chống quân Thanh chưa kết thúc hoàn toàn, nên việc tập trung tài lực và vật lực cũng gặp rất nhiều trở ngại. Tuy nhiên, với tinh thần quả quyết, vua Quang Trung chỉ dụ:

“Những công việc to, tạm thời hoãn lại. Nhưng Sở Ngũ Hành thì không thể lưỡng lự được, cần phải hoàn thành sớm.”

Đánh tan giặc Thanh, Quang Trung ra lệnh phải đẩy nhanh việc xây dựng. Ông chỉ dụ Trần Quang Diệu (Trấn thủ Nghệ An) huy động thợ thuyền, vật liệu gạch ngói, gỗ đá… để xây lâu đài, cung phủ tại Phượng Hoàng Trung Đô. Sau một thời gian đôn đốc, về đại cương công trình đồ sộ này đã hoàn thành, vua Quang Trung đã đến và ở được, thậm chí là đã có lúc vua còn thăng triều ở kinh đô mới này. Ông đã có thư cho Nguyễn Thiếp đề ngày 5 tháng 10 niên hiệu Quang Trung thứ hai (năm 1789):

“Trẫm nay đóng đô tại Nghệ An, cùng tiên sinh gần gũi. Rồi đây, tiên sinh hãy ra đây mà giúp nhau trị nước.”

Tương Quang Trung ở Đống Đa (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Tuy nói việc định đô mới là từ yếu tố tâm linh - phong thủy, nhưng nguyên nhân sâu xa hơn, xuất phát từ nguồn gốc của vị vua áo vải này. Theo sử liệu thì anh em Nguyễn Huệ có tổ tiên sinh sống nhiều đời ở vùng Hưng Nguyên - Nghệ An trước khi di cư vào phương Nam. Việc di cư này cũng mang yếu tố chính trị - lịch sử, khi tổ tiên của họ bị bắt làm tù binh trong cuộc chiến Trịnh - Nguyễn (thế kỷ XV).

Cha ruột của Nguyễn Huệ cũng không phải họ Nguyễn mà là họ Hồ. Như vậy, còn điều gì hợp ý trời lòng dân hơn, khi một vị vua mới lên ngôi quay về đóng đô trên chính quê cha đất tổ, vừa dễ dàng thu phục lòng dân, lại hợp với thời thế khi người dân đã quá mệt mỏi vì cuộc chiến phân tranh Trịnh Nguyễn kéo dài triền miên (Đàng Ngoài-Đàng Trong)

Còn về vị trí địa lý, Nghệ An từ xa xưa đã là vùng chiến lược dễ dàng tiến thoái trong các cuộc giao tranh để giữ vững bờ cõi trước sự xâm lăng của kẻ thù phương Bắc. Chính Quang Trung đã khẳng định điều này trong thư gửi Nguyễn Thiếp để tỏ ý vì sao muốn đóng đô ở đây:

“Nay kinh Phú Xuân thì hình thế cách trở. Ở xa trị Bắc Hà, sự thể rất khó khăn. Theo đình thần nghị rằng: chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ đường vừa cân, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ làm cho người tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về…Tiên sinh xét rõ hưng vong, hiểu thông thời vụ, thì tự hiểu điều ấy.”

Tượng Quang Trung ở Huế (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Thậm chí, trước phút lâm chung, Quang Trung còn có những lời căn dặn chẳng khác nào lời tiên tri đối với tương lai của triều đại do anh em ông gây dựng nên, khi nói với tướng Trần Quang Diệu rằng:
“Các ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm dời đô về Vĩnh Đô (Vinh) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân.”
Nhưng cuối cùng điều đó đã không được người kế nghiệp ông thực hiện.

Thời gian qua đi, mưa nắng xói mòn, chiến tranh tàn phá, đã khiến cho Phượng Hoàng Trung Đô uy nghi lộng lẫy ngày nào dần mục nát. Sau hơn hai trăm năm, nơi đây chỉ còn lại một vùng phế tích.

Tuy nhiên, Nguyễn Thiếp lại là người không muốn Nguyễn Huệ đóng đô ở Nghệ An, có lẽ ông sợ việc xây dựng kinh đô sẽ làm khổ nhân dân địa phương. Chính vì vậy mà trong một tờ tấu gửi Quang Trung, ông đã nại ra rằng, ở chỗ đó đất chật hẹp, kề núi kề sông, bờ sông lại hay bị sạt lở, việc đóng đô là không thuận lợi.

 

Bình phong trước đền Quang Trung (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Quang Trung đã trả lời rằng:

“Nếu bảo rằng những chỗ như Phượng Hoàng, Khánh Sơn không được đô hội thì sao chẳng tìm chỗ tốt khác cho thỏa ý Quả cung trông mong? Nhớ buổi hồi loan kỳ trước lúc qua Hoành Sơn, Quả cung đã từng mở xem địa đồ, thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để xây kinh đô mới. Thật là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy.”

(Trích chiếu của Quang Trung đề ngày 3 tháng 9 năm Mậu Thân (1788)).

Hơn 200 năm qua, lịch sử đang sống lại: Phượng Hoàng Trung Đô đã “hiện về” trên núi Dũng Quyết. Nhưng, liệu đây có phải là việc làm phát xuất từ lòng yêu quê hương xứ sở của con cháu hôm nay, hay chỉ là một việc làm mang tính “Mượn hoa cúng Phật”?

Chiếu gửi Nguyễn Thiếp (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Thế giới ngày càng văn minh, con người ngày càng tài ba đức độ. Công cuộc phục dựng tôn tạo các di tích lịch sử đã một thời sáng chói của nước nhà là điều đáng cổ xúy hoan nghênh. Nhưng (đời nay) cũng không hiếm kẻ tham quyền cố vị, tài hèn mà muốn cao bổng lộc, ngồi không ăn có nên chuyện dựa hơi lịch sử, mượn lịch sử làm hào quang cho mình là có thể hiểu được.

Người Anh có câu ngạn ngữ đại để: “Anh có thể nói dối với một người suốt đời nhưng không thể nói dối với nhiều người mãi mãi.” Người Việt thì có câu: “Cái kim trong bọc (túi) lâu ngày cũng lòi ra,” hoặc “dấu đầu lòi đuôi.” Trước thời đại Internet hôm nay, dù có ba đầu sáu tay cũng khó mà bưng bít những chuyện hèn kém, những việc phi nhân. Tất cả những công trình xuất phát từ lòng bất chính tham lam, sớm muộn cũng bị lịch sử phê phán, bị nhân dân nguyền rủa, cho dù tác nhân không còn ở thế gian này.
(kỳ sau: Thăm Phượng Hoàng Trung Đô)
Trần Công Nhung

(1). Những đầu bài đã viết trong bộ QHQOK (16 tập)
(2) Nhà Nguyễn với triều Tây Sơn. Đền Ghềnh trang 49 QHQOK tập 15
(3) Phủ Lê Văn Duyệt QHQOK tập 17

Tin sách: Như đã thông báo sách Chuyện Riêng, tập Vào Đời đã có nhưng không may phần lớn sách bị thất lạc, tác giả xin cáo lỗi cùng độc giả. Trong thời gian ngắn khi mọi việc ổn thỏa, sẽ xin thông báo để độc giả rõ.
Liên lạc email: trannhungcong46@gmail.com, P.O. Box 163, Garden Grove, CA.92842

Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements