Friday, 08/04/2016 - 10:36:10

Phủ Tùng Thiện Vương (kỳ 2)

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Trong kỳ trước chúng ta đã tìm hiểu con người của Thi Ông Miên Thẩm, một ngôi sao thi ca dưới triều nhà Nguyễn. Tuy được lập phủ trong thành nội, nhưng ông đã xin dời phủ về bên bờ Bắc sông Lợi Nông (sông An Cựu), gọi là “Ký Thưởng Viên”. Trước khi xây dựng Ký Thưởng Viên, ông cho dựng Tiêu Viên để rước mẹ về phụng dưỡng. Năm 1851, bà Thục Tần mất, Tiêu Viên trở thành từ đường thờ mẹ ông, còn Ký Thưởng Viên làm nhà dạy học. Từ năm 1870, sau khi Tùng Thiện Vương mất, phủ đệ thành từ đường thờ ông và con cháu. Đây là hai công trình kiến trúc quan trọng trong tổng thể của phủ Tùng Thiện Vương, hai nếp nhà nằm song song trước sau, hình chữ nhị.

Bến Phủ (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Phủ Tùng Thiện Vương là một vương phủ bề thế và quy mô tọa lạc tại số 91 Phan Đình Phùng, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế.

Sông An Cựu thì ai cũng biết nhưng hỏi Phủ Tùng Thiện Vương thì đa số đều lắc đầu. Số 91 không rõ khoảng nào, tôi cứ lên chợ An Cựu rồi lần theo bờ sông dần về số 91. Dòng sông “nắng đục mưa trong” nay hai bờ xây kè đá, người dân đã biết giữ gìn môi sinh nên dòng sông trong xanh sạch đẹp.



Đến số 91 thấy ngay mặt tiền của phủ Thi Ông, khác hẳn mặt tiền nhà dân hai bên và cũng không quy cách nặng nề vua chúa như cổng phủ Tuy Lý Vương. Đứng bên lề bờ sông ngắm một lúc tôi nhận ra nét đặc biệt của phủ Tùng Thiện Vương nhẹ nhàng như một bài thơ.



Từ ngoài vào phủ là hệ thống cổng bao gồm cửa chính và hai cửa phụ. Cổng chính nằm trên nền cao 0.5 m, dài 4 m, rộng 3 m. Đây là loại cổng giả cổ lâu, phía dưới trổ một lối vào rộng 2 m, cao 2.5 m, hai cánh cửa gỗ đóng kín. Phía trên đắp giá lâu, có mái nhỏ lợp bằng ngói lưu ly tạo những đường rãnh lớn, dạng cổ lâu này cũng tương tự như các phủ Gia Hưng Quận Vương, Hoằng Hóa Quận Vương, Thiệu Hóa Quận Vương… Phía hai bên cổng chính, hai lối đi hẹp dạng cửa vòm rộng 1.2 m, cao 2 m, cửa ván đóng im ỉm.
Toàn khung thành và cổng được kết cấu bằng những nét đơn giản nhẹ nhàng, không rườm rà hoa bướm, không cẩn màu rối mắt, thể hiện nét cổ kính trầm mặc với màu phong rêu. Sau ba khung cửa cổng là những tán hoa phượng xanh, những thân cau thon thả vươn cao trên nền trời mấy trắng... Rõ ràng một vùng phủ đệ thâm nghiêm khêu gợi khách qua đường. Đối diện với Tùng Thiện Vương Từ Môn là Bến Phủ, hơn mười bậc cấp xuống bờ sông, nơi ngày trước luôn có chiếc thuyền nhỏ để Thi Ông dạo chơi ngoạn cảnh.
Các cửa vào Phủ đều đóng, nơi cửa vòm có bảng báo: “... liên lạc ông Bửu Tộ số nhà 79”. May mắn ông Bửu Tộ có nhà, ông vui vẻ mở cửa cho tôi vào và chỉ dẫn cho tôi từ trước ra sau. Trước hết là phủ thờ, một gian hai chái, giữa là bàn thờ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Hai bên thờ thân nhân dòng tộc, bệ thờ thấp và bày biện đơn sơ: bát nhang chân đèn, ảnh hoặc bài vị... chỉ con cháu nội mới được thờ trong Phủ.
Gian thờ Thi Ông Miên Thẩm uy nghi tươm tất hơn hẳn, nhưng không lôm côm lộn xộn những bia lon, thịt cá, vàng mả, đô la âm phủ, lối thờ rất phổ biến ngoài Bắc:

- Một tủ gương nhỏ thấp phía trước trưng bày một số tác phẩm, tài liệu về nhà thơ.
- Kế là bàn thờ Tùng Thiện Vương có bức chân dung do danh họa Dương Tê (Tàu) vẽ, đồ tế tự đủ bộ ngũ sự, đặc biệt có hai trái bầu khô, hai chai rượu và hộp bánh. Sau bàn thờ là một sập gỗ thấp có lẽ để dọn cổ bàn trong ngày kỵ. Có hai khung ảnh lồng câu đối của Vua Tự Đức ngợi ca tài năng đức độ nhà thơ Miên Thẩm. Hàng năm đến ngày húy kỵ, con cháu tề tựu trên trăm người. Trong dịp này có phát giải khuyến học cho các cháu học giỏi.


                                   Thông tin Mạc Vân thi xã (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Ông Bửu Tộ cũng cho biết, con cháu Thi Ông cũng noi gương Ngài làm từ thiện giúp đỡ người nghèo trong tỉnh Thừa Thiên - Huế.

- Một khám thờ đặt trong cùng trên bệ cao lưu trữ một số di vật của nhà thơ.
Sau phần giới thiệu nội thất, ông Tộ nói qua phần trang trí bên ngoài. Ngay trên bức tường đầu hồi bên trái gắn hai bảng đồng có nội dung:
Bảng đồng thứ nhất

                                     Bàn thờ Tùng Thiện Vương (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

1 Mạc Vân thi xã
Huế xưa là một vùng đất thơ, nhiều thi xã được thành lập, nhưng nổi tiếng nhất là “Mạc Vân thi xã”.
“Mạc Vân thi xã” do Tùng Thiện Vương Miên Thẩm thành lập năm 1850, được đặt tại Phủ Tùng Thiện Vương.
Tổ chức này có qui mô và ý nghĩa về nhiều mặt như một “Hội Nhà Văn” trung ương ở nước ta (1)vào đầu thế kỷ 19.
Tào đàn “Mạc Vân thi xã” thường tổ chức ở “Ký Thưởng Viên” nay là Phủ Tùng Thiện Vương (45 Phan Đình Phùng – Huế) (nay số 91)
Khách văn chương thường gồm các danh công, cự khanh và các tay tài hoa thi tứ tại kinh đô thời bấy giờ đều có tham dự.

                                       Gian thờ chính (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Nhiều văn nhân thi sĩ đương thời ở đất thần kinh và cả nước như Cao bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Hà Tôn Quyền, Phan Thanh Giản, Tuy Lý Vương Miên Trinh hay đến đó để ngâm thơ vịnh nguyệt.
Lao Sùng Khánh là một danh sĩ Trung Quốc từng đến thăm “Mạc Vân Thi Xã” ở “Ký Thưởng Viên” viết:
“Phân tài trực bách Ngụy Tào Thực
Ái khách cách siêu Tề Mạnh Thường”
Có nghĩa là: “So tài năng chẳng kém gì Tào Thực thời Ngụy. Yêu khách còn hơn cả Mạnh Thường đời Tề”.
Một sứ Tàu còn tặng “Ký Thưởng Viên” một tấm biển đề “Thượng hà lộ bạch
đường” với ý rằng chủ nhân là một người thanh cao như giọt sương trắng trên
ngọn lau được bạn bè yêu mến.
Hoạt động của Thi xã là tổ chức các buổi xướng họa thi văn, mở các cuộc thi sáng tác theo từng chủ đề, đôi lúc lại mở các cuộc sinh hoạt ca Huế.
(Bửu Hiệp phụng cúng)

                                         Gian thờ hậu duệ (nội) (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Bảng đồng thứ nhì

2 Thân thế và sự nghiệp nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-1879)
Miên Thẩm là con trai thứ mười của Vua Minh Mạng.
Ông sinh ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão (11/12/1819), mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (30/04/1870) hưởng dương 52 tuổi.
- Ông tự là Trọng Minh, Trọng Uyên, hiệu là Thương Sơn, biệt hiệu là Bạch Hào Tử.
- Ông nổi tiếng hay thơ từ năm 12 tuổi, để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ gồm 14 bộ trong đó bộ “Thương Sơn thi tập” gồm 54 quyển, chia làm 8 tập, với 2200 câu thơ.
- Đương thời ông được xếp vào “Trường An tứ kiệt” với 2 câu thơ lưu truyền tôn xưng 4 danh sĩ:
“Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán

                                              Ký Thưởng Viên (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường”
Nhà thơ Lương An nhận xét “Thơ của Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương là 2 đỉnh nếu không nói là cao nhất, trong dòng thơ chữ Hán của Việt Nam ta thời bấy giờ”.
- Ông đứng ra chủ trì “Tùng Vân thi xã” (Mạc Vân thi xã) và được xem là “Tao Đàn Nguyên Soái”, tập hợp các văn nhân thi sĩ đương thời ở đất thần kinh và cả nước.
- Ông là bạn thân tâm đắc với nhà thơ Cao Bá Quát.
- Tuy Lý Vương đã viết: “Thơ Tùng Thiện Vương như ráng mây giữa trời, như hoa cỏ giữa núi...câu thì có tiếng nhạc, chữ thì có sắc màu.
- Chu Ứng Nguyên, học giả ở Bắc Kinh (Trung Quốc) nhận xét: Nếu sinh ở Trung Quốc, ông sẽ được sánh ngang với Hàn Dũ, Tô Thức(2).
- Tùng Thiện Vương biết hòa mình vào xã hội và dân tộc, vào những giá trị nhân văn sâu thẳm nên tiếng thơ của ông vượt lên thời gian, đến với nhiều thế hệ mai sau.
Hiện nay, tên của ông đã được đặt trang trọng ở đại lộ Tùng Thiện Vương ở quân 8 tp Hồ Chí Minh và đường Tùng Thiện Vương ở chợ Mai Vỹ Dạ – Hue(3).
Thơ của ông đã được các học giả Lương An, Ngô Văn Phú, Ngô Văn Chương, Ngô Thời Đản, Ưng Trình Bửu Dưỡng, Trần Thanh Mại nghiên cứu...

(còn tiếp)
Trần Công Nhung

Cổng phủ Tùng Thiện Vương (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


(1) Người viết nhận thấy có những sự kiện lịch sử hàng trăm năm trước, nhiều tác giả cứ xem mới xảy ra trong thời XHCN, chữ nghĩa y như trong các “nghị quyết đảng”...
(2) Hàn Dũ, Tô Thức (Tô Đông Pha) là hai trong 10 nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc:
1 Khuất Nguyên, 2 Tư Mã Thiên, 3 Đào Uyên Minh, 4 Lý Bạch, 5 Đỗ Phủ, 6 Bạch Cư Dị, 7 Hàn Dũ, 8 Âu Dương Tu, 9 Tô Thức, 10 Tào Tuyết Cần.
Hàn Dũ (25/12/824) tự Thoái Chi, sinh tại đất Hà Dương, Hà Nam, Trung Quốc (nay thuộc Mạnh Châu, tỉnh Hà Nam); tổ phụ người đất Xương Lê (nay thuộc Hà Bắc, có thuyết nói thuộc huyện Nghĩa, Liêu Ninh) nên ông thường tự xưng là Hàn Xương Lê, làm quan về đời vua Đường Hiến Tông (806 - 820) tới Binh bộ thị lang, Lại bộ thị lang.Tản văn của Hàn Dũ được đề cao. Thơ của Hàn Dũ trên thi đàn Trung Đường cũng đứng riêng một chỗ, thơ ông
với thơ phái Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị như hai ngọn núi đứng song song. Hàn Dũ lấy văn
làm thơ, Tăng cường sức biểu đạt của thơ, mở rộng lãnh vực của thơ.
http://khanhhoathuynga.files.wordpress.com/2009/05/p0701479.jpg

Vãn xuân
Thảo mộc tri xuân bất cửu quy
Bách ban hồng tử đấu phương phi
Dương hoa du giáp vô tài tứ
Duy giải mãn thiên tác tuyết phi

Dịch Nghĩa:

Cây cỏ biết xuân về chẳng được lâu dài
Trăm loài hồng tím đua nhau khoe hương sắc
Hoa liễu, trái du chẳng có ý tứ, tài năng gì
Chỉ làm tuyết tung bay đầy trời

Dịch Thơ (Lý Tứ)

Cuối xuân
Cây cỏ biết xuân vốn ít ngày
Khoe hồng phô tía tỏa hương say
Tài hèn ý kém du cùng liễu
Tung tuyết đầy trời phất phới bay

(3) Chuyện đặt tên thời nay có nhiều ý kiến cho rằng người đời quá lạm dụng: Đặt tên các anh hùng lịch sử nơi “Trà đình tửu điếm” hoặc giả tên danh sĩ được lịch sử công nhận bên cạnh những tên tuổi không thật (cha chài chú chóp)... điều đó chẳng phải vinh danh, mạ lỵ thì có.

Tin sách: Thành thật cáo lỗi độc giả, tập sách Vào Đời như đã thông báo đến nay vẫn chưa có. Một số thân hữu gửi thư xác nhận địa chỉ, tôi đã có thư trả lời. Mong độc giả thông cảm cho. Đa tạ.
Liên lạc email: trannhungcong46@gmail.com, P.O. Box 163 Garden Grove, CA.92842
Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

advertisements
advertisements