Tuesday, 15/06/2021 - 09:27:29

Nụ cười của ba


Ba, má, và 4 chị em. (Hình gia đình thập niên 1950)

 

Bài NHƯ AN

“Ngày xưa thời có anh Trương Chi. Người thời thật xấu, hát thời hay thật là hay ư ừ ư...”

Đây là câu hát mà tôi đã nghe ba tôi hát hàng trăm lần thời tuổi nhỏ, có lẽ từ 6, 7 tuổi trở đi, cho đến khi ba tôi bệnh, không còn làm việc được nữa, lúc tôi cỡ 12, 13 tuổi. Ba tôi thích hát lắm, hiếm có khi nào ông không vừa làm việc vừa hát. Thường thì cũng chỉ có hai, ba bài, ngoài bài Trương Chi kể trên thì có bài Hòn Vọng Phu 2: Có ai xuôi vạn lý, nhắn đôi câu giúp nàng, lấy cây hương thật quí, thắp lên thương tiếc chàng... hoặc mấy câu chèo diễu diễu: Sáng ngày xôi cháo gì chưa? Mới có tí cơm nguội với tí dưa cải ngầm...

Tôi luôn nhớ thương thời gian đó, thời tuổi nhỏ vô tư lự trong vòng tay cha mẹ. Lúc tôi bắt đầu có trí khôn, biết được chút ít những chuyện chung quanh, ba má tôi đã tạo dựng được một tiệm may nho nhỏ. Hai ông bà làm việc cật lực đêm ngày để tạo ra những bộ quần áo cho khách hàng, nuôi đàn con 6 đứa, còn nuôi thêm vài người học trò và vài người thợ may. Lúc này ba tôi đang trong tuổi gần 40, lúc nào cũng tươi cười với câu hát trên môi. Nhưng theo lời má tôi kể lại thì để có được thời gian này, hai ông bà đã trải qua cả mười mấy năm gian khổ, thay đổi chỗ ở luôn vì bị đuổi nhà thường xuyên.

Ba tôi sanh năm 1920, quê ở Nam Định, Bắc Việt. Năm 18 tuổi, ông đã cùng một người bạn thân bỏ quê vào tận Sài Gòn dù trong túi chẳng có một đồng vì bất mãn ông bố ruột, người đã bỏ rơi người vợ đầu và đứa con trai bé bỏng để về quê cưới vợ giầu, đến lúc không có con trai nối dõi thì mới đem nó về nuôi. Ông từng theo kháng chiến chống Pháp và bị bắt, bị đánh đập tra khảo đến gẫy xương sườn và gẫy chiếc răng cửa khiến ông sún răng suốt đời, hình nào tôi cũng thấy ông sún răng. Nhưng cũng nhờ đó mà ông gặp má tôi khi cả hai cùng theo kháng chiến.

Được thả ra, ông tìm được chỗ học nghề may. Đó là tiệm may Do’x Tuy của ông thầy Đỗ Xuân Tụy. Dù còn nhỏ, tôi đã thấy thích thú với cách chơi chữ đặt tên tiệm may thành tên “Tây” của ông Tụy, người có cái tên thật đặc biệt mà cũng là người ba tôi bắt kêu là ông nội, thay cho ông nội ruột còn ở ngòai Bắc. Ba tôi học được nghề may cắt tới nơi tới chốn, vì ông có thể cắt may hoàn tất những bộ đồ veston, một khả năng ít người có được. Ngày xưa học trò học nghề thường sống ngay ở nơi hành nghề của ông thầy và được nuôi ăn ở, giúp việc trong nhà. Họ thường ăn uống kham khổ, theo câu nói thường nghe của người Việt mình “ăn thì nhiều chứ ở chẳng bao nhiêu”. Đúng vậy, ở thì đâu cũng được, thậm chí xó nhà cũng nằm ngủ tạm qua đêm được nhưng ăn thì là... chuyện lớn, tốn kém lắm. Ba tôi được nuôi ăn bằng rau muống bảy món dài dài. Nên có lần, để tỏ ý phản đối, ông căng sợi rau muống giữa hai cây tăm tre và lấy đũa quất nó, cho nó ăn đòn, kèm theo lời mắng: “Tiên sư cha nhà mày! Tao đã vào tận trong Nam để trốn mày mà mày cứ mãi quấn theo tao là làm sao?” Ông bị một trận mắng tơi bời nhưng nhờ đó cũng bớt được gặp mặt nàng rau muống.

Tiệm may của ba má tôi, cũng là căn nhà thời thơ ấu của tôi nằm trên đường Lê Văn Duyệt, con đường nối từ cầu Bông tới Lăng Ông Bà Chiểu. Nhà tôi nằm gần dốc chân cầu Bông, là một tiệm may mang tên ba tôi. Nhà nhỏ, chỉ có một phòng dài khoảng chục mét hơn, ngang khoảng 3, 4 mét. Ban ngày, nhà là một tiệm may bận rộn với 4-5 người thợ may, mỗi người gò lưng trên một chiếc máy may, đạp xoành xoạch. Ban tối, tất cả được dọn sạch, chỗ trống ở giữa trở thành giường ngủ của cả nhà. Ba tôi mua mấy miếng carton lớn trải ra, cả nhà nằm xếp lớp ngủ trong những cái màn được giăng ra.

Ba tôi làm việc ở một cái bàn thật lớn, đủ chỗ cho ông trải cả tấm vải rộng để cắt thành những mảnh thân chiếc áo veston, chiếc quần tây hay cái áo sơ mi. Ông ngồi trên một chiếc ghế cũng lớn và cao, vừa làm việc vừa hát nghêu ngao cả ngày, những bài hát đã đi vào tâm khảm tôi từ lúc tôi còn rất nhỏ và nằm ở đấy không bao giờ phai. Ngoài tiếng hát của ba tôi, cả nhà còn được giải trí bằng cái radio đặt trên một chiếc tủ cao. Có thể nói kiến thức văn nghệ của tôi hầu hết là được học vào những năm nhỏ tuổi bằng những chương trình phát ra từ chiếc radio ấy. Lớn hơn một chút, chị em tôi được ba mua cho một cây đàn mandoline, cộng thêm kiến thức âm nhạc học trong trường, chúng tôi bắt đầu bước chân vào con đường âm nhạc, một con đường đầy hoa thơm cỏ lạ, đem đến cho chúng tôi nhiều niềm vui sướng cũng như giúp chúng tôi vượt qua những lúc buồn chán, cô đơn. Nhớ lại, tôi thấy phục và biết ơn ba tôi vì ông đã dìu dắt các con vào con đường âm nhạc dù ông chẳng bao giờ có cơ hội chơi nhạc.

Chiều chiều, ăn cơm tối xong, ba tôi dắt mấy đứa con dạo phố Đa Kao, đường Đinh Tiên Hoàng, nơi có những người bán nhạc dạo, bầy trên đường những bản nhạc in khổ đôi, bìa ngoài là tranh vẽ của các họa sĩ đương đại hay hình chụp các cô ca sĩ nổi tiếng, bên trong là bài hát có nốt nhạc. Ba tôi mua những bản nhạc mới ra cho chúng tôi về nhà đàn và tập hát. Nhớ lại, tôi thấy ba tôi thật là nghệ sĩ; ông thích hát, thích đàn, thích nghệ thuật. Ông thường dẫn theo mấy đứa con, có đứa còn nhỏ xíu, nhiều khi mới lên 3, 4 tuổi, đi xem triển lãm tranh, triển lãm nhiếp ảnh, coi cải lương, coi đại nhạc hội, và mua bài nhạc. Có lẽ lòng yêu âm nhạc và nghệ thuật của chị em tôi là do từ ông truyền xuống. Tiếc thay, ba tôi mất sớm lúc mới có 44 tuổi sau vài năm bệnh dai dẳng trầm kha, khi tôi học lớp đệ tứ, tức mới 14 tuổi.

Tuy ba tôi không sống lâu để dạy chúng tôi nhiều thêm về cuộc đời nhưng tôi không bao giờ quên được những kỷ niệm đầy tươi vui mà ông để lại khi ông dẫn đàn con đi thăm gia đình, đi hóng gió ngoài bến tàu, dạo trên đường Catinat để đi chúc Tết những người thầy của ông.... Trong óc tôi lúc nào cũng có gương mặt tươi cười của ông với chỗ răng sún. Ông có nhiều sáng kiến và luôn cố gắng vươn lên. Ông đã tự học tiếng Anh vào những năm cuối thập niên 50, lúc tiếng Anh chưa “hợp thời trang”, và vào tận những khách sạn ở Sài Gòn để tìm khách may là những người ngoại quốc trong Ủy Ban Giám Sát Đình Chiến. Tuổi còn nhỏ, tôi đã được gặp những người Ấn Độ trong cái ủy ban này. Họ đến tiệm, mang theo cả các bà vợ. Tôi được nghe những câu tiếng Anh lạ lẫm và được giúp viền tà những chiếc “sari” dài thậm thượt. Ba tôi được những người khách này quí mến và giới thiệu nhiều khách mới cho ông. Trong một tấm hình đám tang của ông, có ba ông Ấn Độ cao nghệu, những người khách tìm đến tiệm may của ba tôi lần đầu, khi ông đã mất.

Ba ơi! Con nhớ mãi nụ cười và sức sống của ba.

Father’s Day June 20, 2021

 

Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

advertisements
advertisements