Thursday, 03/06/2021 - 08:45:54

Nỗi đau của người nông dân


Vải được bày bán nhưng không mấy người mua một phần vì lo sợ dịch. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Bài NGUYÊN QUANG

Đề tài người nông dân mùa cúm Vũ Hán, nghe ra có vẻ quá nhiều, bởi hầu như tuần nào chúng tôi cũng đề cập đến câu chuyện của người nông dân. Thế nhưng hình như chúng tôi biết quá ít về nỗi đau của họ, những người đã làm ra hạt gạo, làm ra trái cây, ngọn rau… cho chúng tôi ăn. Đương nhiên sẽ có người bảo rằng họ khốn cùng hôm nay là quả báo của việc dùng thuốc độc hại của Trung Quốc và họ không đáng thương… Nhưng có một sự thật khác, nếu xét kĩ, người nông dân chịu thiệt hại về thân thể đầu tiên và nhiều nhất, khi dịch cúm kéo đến, họ càng thêm đau khổ.


Lật qua lật lại...

Ai đã từng gánh rau, gánh trái cây ra chợ, nhất là chợ đầu mối, chờ họp lúc mười hai giờ đêm cho đến bốn giờ sáng mới thấu hiểu nỗi đau của người nông dân. Tôi khẳng định như vậy vì tôi từng một thời trồng rau mồng tơi với số lượng nhiều, mỗi ngày thu hoạch cả trăm kí gánh ra chợ đếm bán và có thể nói rằng, nếu hỏi tôi trong cuộc đời, ê chề, buồn bã nhất là khi nào, tôi không ngần ngại trả lời: Lúc làm vườn!


Trông chờ cả năm mới có một mùa vải, cơm áo gia đình người nông dân phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập từ việc bán vải. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Tại sao lại là lúc làm vườn? Người ta nói rằng không gì vui bằng thú điền viên, làm vườn, hái trái, chơi với cỏ cây? Không, đó là câu chuyện của người nhàn hạ, người có của ăn của để, người có thân thế, sự nghiệp, chứ với nông dân, đặc biệt là nông dân Việt Nam thì lúc làm vườn, đi bán nông sản là lúc ê chề nhất, lúc chạm với thân phận của mình một cách kịch liệt, nó chỉ cho thấy rằng khi không còn lối thoát, người ta chọn đám ruộng, mảnh vườn. Cái đau khổ của nghề nông Việt Nam nằm ở đây.

Tôi nhớ hồi tôi mười tám, đôi mươi, gia đình khó khăn, thời chưa có điện, mỗi sáng tôi gánh gần hai trăm đôi nước, tức bốn trăm thùng để tưới rau, tưới từ bốn giờ sáng cho đến gần bảy giờ sáng mới xong, không kịp nghỉ ngơi, ăn vội chén cơm là cắp sách tới trường. Tối về thì ôn bài ở lớp xong lại chui vào ngủ sớm, để đến hai giờ khuya thì mẹ gọi dậy, gánh giùm rau cho mẹ ra chợ để bán. Chợ họp lúc mười hai giờ đêm cho đến bốn giờ sáng. Thường thì bán xong rau, về ngủ một lúc lại dậy tưới rau, đi học… Làm quần quật như vậy nhưng hiếm khi dư, may lắm cũng đủ ăn là cùng.


Không biết số phận của những trái quýt này khi chín có bị gán thêm mác 'giải cứu' hay không. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Lần bán rau ấn tượng nhất là cái lần tôi bán giùm rau cho mẹ, nghĩa là mọi khi, tôi gánh rau ra chợ, để mẹ ngồi bán, tôi quay về nhà ngủ, mai tưới rau sớm rồi đi học. Hôm đó mẹ tôi mệt, tôi gánh rau ra chợ tự bán. Mấy bà buôn tới lật rau tới, lật rau lui, mà mồng tơi mình nước, chỉ cần lật vài cú thì dập hết, tôi lo ngại, nói mấy cô coi mua giùm con chứ lật như vậy thì làm sao con bán. Mấy bà nguýt dài, nói thôi mày mang về cho heo ăn đi chớ rau mà không cho coi thì sao tụi tao mua. Sau đó cứ bị ép giá, ban đầu một ngàn đồng trên một chục (mười hai kẹp rau, tương đương 15 kg), tôi chưa bán vì đợi thêm chút đỉnh rồi hẳn bán. Các bà tới nói chuyện với nhau, sau đó tới trả còn 800 đồng, đứng một lúc, trả còn 300 đồng. Hỏi ra thì gần bốn giờ rồi, chợ sắp tan, vậy là tôi bán, các bà trả cho tôi 250 đồng/ chục rau. Tôi về mà buồn rười rượi, than thở với mẹ. Mẹ bảo rằng chợ là vậy, mẹ quen rồi nên cứ nghe trả được là bán tháo, họ ép xuống một chút cũng đỡ hơn để chợ sắp vãn…

Câu chuyện bán rau tôi không quên nhưng cũng không muốn nhớ và không muốn nghĩ về nó, đùng cái, dịch cúm Tàu kéo tới, nông dân khốn khổ vì nông sản không tiêu thụ được, nhưng ở các đợt dịch trước, người ta đối xử với nhau còn chút tình người, đợt dịch thứ tư này, mọi thứ trở nên tệ hại không thể tưởng tượng, chuyện trái vải bị ép giá ở Bắc Giang khiến tôi nhớ lại câu chuyện rau mồng tơi của tôi. Nhưng nghe ra, người ta ép còn đau đớn hơn thời tôi gặp.


Nếu như người miền Bắc mong bán được mận, vải thì người miền Trung đang chất đống hàng chục tấn bí đao, người Tây Nguyên mong được giải cứu bơ, sầu riêng, người miệt Tây Nam Bộ mong được giải cứu chanh, xoài... (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Bởi một ký lô vải thiều, nếu gặp lúc đắt giá, có thể lên đến 150,000 đồng (tương đương $6.50 USD), lúc rẻ gì nữa cũng có giá 20,000 đồng (tương đương $0.85 USD). Thế nhưng trong lúc này, lúc mà người nông dân trồng các loại nông sản cao cấp đều đứng khựng, không bán được nông sản cho các nhà xuất khẩu, thì chính nhà buôn Việt Nam lại xắn tay làm một việc hết sức tồi tệ: Ép giá nông dân đến mức cuối cùng, ép tận xương!
Chị Nguyệt, một nông dân trồng vải ở Lục Ngạn, Bắc Ninh, buồn bã, “Ui năm nay khóc anh ơi, không còn cách nào để nói, tệ quá!”

“Chị có thể cho biết rõ hơn một chút không chị?”


Thời Covid mới có những trái mận ngon như thế này được bày bán ở các chợ quê. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Giá vải chưa có năm nào tệ như năm nay, nói thật là năm nay vải được mùa, thời tiết thuận lợi nên không có sâu bọ, trái ngọt, mẩy, nông dân tụi em mừng lắm, ai ngờ tới khi thu hoạch, ê mặt anh à. Anh tưởng tượng giá vải trước đây vài chục ngàn đồng một ký lô, tệ lắm cũng còn hai chục ngàn đồng. Hiện tại, người ta trả giá từ tám ngàn đồng, mình chờ cho khá một chút thì trả xuống còn hai ngàn đồng một ký lô. Anh thử nghĩ bán ba ký vải thiều mới mua được một gói mì ăn liền thì chỉ còn nước chết đứng, mà không bán thì chở về không nổi. Mệt, thất vọng, buồn… Mà giá bán ngoài thị trường đâu đến nỗi như vậy, họ ép nông dân mình anh ạ!”
Nghe tới đây, tôi không thể hỏi thêm câu nào. Thôi thì tìm một nhà buôn và một người làm quản lý thị trường để hỏi xem cớ sự.


Nhà quản lý nói gì?


Điều đáng buồn là khi thương lái, nhà buôn ép giá nông dân, dường như quản lý thị trường không những không lên tiếng mà còn có khuynh hướng bỏ qua trách nhiệm và ném cái trách nhiệm ấy cho… dịch bệnh! Ông Khướu, một cán bộ quản lý thị trường ở Bắc Giang, phân trần, “Tình hình dịch bệnh, khó lói (nói) nắm (lắm) anh ơi!”


Khi xoài không kịp được 'giải cứu'. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Khó nói nghĩa là sao anh?”

“Thì khó lói bởi vì dịch bệnh, bà con lông dân nẽ ra phải ở nhà, đằng lày cứ chở ra chợ bán như vậy nà rất nguy hiểm. Chúng tôi khuyến khích bà con ở nhà.”

“Nhưng mình phải có kế hoạch gì đó để cứu bà con nông dân chứ anh? Ở nhà mãi, mai mốt hết dịch lấy gì mà ăn?”

“Thì đành vậy, nhưng mà hiện tại, chưa thể đi bán được. Vậy nàm sao chúng tôi có thể quản ný chứ! Bà con phải ý thức!”


Bán online là kênh được sử dụng nhiều trong thời dịch. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Một khi thị trường đã hình thành, nghĩa là chợ đã đông, nếu ban quản lý không có kế hoạch điều tiết giá, để nhà buôn kỳ nèo với nhà nông mãi như vậy thì chắc chắn nguy cơ lây lan dịch bệnh còn cao hơn. Trong khi đó, tôi nghĩ một động tác rất đơn giản là ra mức giá sàn, bằng chế tài với nhà buôn, cái này có lợi cho nông dân, cho thị trường và có thể thông qua cái loa ở chợ mà đọc lệnh, đọc qui định… Sao các anh không làm vậy?”

“Ông lày lói nghe dễ gớm nhỉ! Lếu dễ vậy thì ông đi nàm thị trường đi, chuyện gì phải hỏi đến chúng tôi! Ông phải hiểu nà thời điểm bây giờ, mọi sự rất nà khó, thậm chí phải thông cảm cho nhà buôn bởi vì họ mua ra chắc gì đã bán nại được!”

“Tôi vẫn thấy vải ở các tỉnh bán với giá vài chục ngàn đồng một ký đó thôi! Nếu các anh chịu làm, thương người nông dân thì tôi nghĩ không có gì là khó!”

“Ông lói vậy thì ông cần gì hỏi tôi lữa. Tôi bận nắm, tôi có việc phải nàm đây, tôi cúp máy nhé!”


Điệp khúc 'giải cứu' được cất lên khắp mọi nơi, vấn đề là có ai nghe thấu và có ai có lực để giúp giải cứu. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Thôi thì hỏi nhà buôn vậy, bà L. một người buôn trái cây lâu năm, chia sẻ, “Tụi tôi không dám mua giá cao, thực ra, cái giá đó coi như nếu lỡ bị cấm mang đi thì mang đổ. Khổ lắm, bây giờ đang dịch, biết tính sao!”

“Hiện tại, vải của xứ nào là có chất lượng cao vậy chị?”

“À, vải của Lục Ngạn, đất này trồng vải rất hợp, ngon nhất thôi, chứ không có nhì!”

“À chị, vải Lục Ngạn có giá chênh lệch bao nhiêu phần trăm so với vải của xứ khác?”

“Không nhiều lắm đâu, dao động từ 10 tới 20% thôi, không thể hơn. Hiện tại, ngoài thị trường các tỉnh, vải Lục Ngạn bán chừng ba chục ngàn đồng, mà vải Lục Ngạn mang sang nước ngoài là tới mấy trăm ngàn đồng tiền Việt lận đó.”


Không riêng gì vải Lục Ngạn - Bắc Giang, người trồng vải ở Hải Dương, Nghệ An, Đắc Lắk cũng đang ráng tìm đầu ra cho trái vải. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Thường thì giá chênh lệch ở các tỉnh khoản bao nhiêu phần trăm so với giá bỏ sỉ của mình vậy chị?”

“Chừng 20% thôi, chừng đó là lời chán vì họ ngồi tại chỗ bán, mình phải vận chuyển, mỗi lần đi cả mấy chục tấn, khổ lắm!”

“Mỗi chuyến xe vào Nam chắc mắc lắm chị há?”

“Ừ, mắc lắm anh, chừng hai chục triệu đồng. Vào trong đó mình bỏ mối giá chừng hai chục ngàn đồng, cao thì hai nhăm ngàn đồng, mà hiếm, bây giờ hai mươi ngàn thôi!”

“Như chị vận chuyển mỗi chuyến chừng bao nhiêu tấn?”

“Chừng hai mươi tấn, hết hai mươi triệu đấy.”


Phơi khô bí đao, sơ chế thành trà bí đao để dành - một trong những cách giúp tiêu thụ bí đao của chị em phụ nữ có tâm. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Tôi thử nhẩm: Hai mươi tấn là hai mươi ngàn ký, mỗi ký bỏ có giá hai mươi ngàn đồng, lấy hai mươi ngàn nhân với hai mươi ngàn sẽ bằng bốn trăm triệu đồng, trừ tiền mua vào, tính theo lúc giá cao nhất là tám ngàn đồng mỗi ký, như vậy là một trăm sáu mươi triệu đồng tiền mua vào, hai mươi triệu tiền vận chuyển, tổng là một trăm tám mươi triệu tiền gốc, lấy bốn trăm triệu trừ cho một trăm tám mươi triệu, còn hai trăm hai mươi triệu đồng (220,000,000 đồng), số tiền này tương đương với $9,480 USD. Một số tiền không dễ gì kiếm được trong vòng một tuần. Trong trường hợp giá gốc khi mua là hai ngàn đồng thì tiền lời còn cao hơn. Thế mới thấu hiểu người nông dân đau đến độ nào.

Nếu như những đợt dịch trước, nhiều nông dân chung tay vào “giải cứu nông sản” của vùng miền khác bởi cùng cảnh mới hiểu khó của nhau thì năm nay, có vẻ như chẳng còn mấy ai tham gia giải cứu. Bởi qua nhiều đợt bùng phát dịch, nhiều người khó khăn chồng chất khó khăn. Những người tham gia giải cứu trái vải, trái dưa hấu cho nông dân khác giờ cũng đang loay hoay với đống bí đao, đống dưa cà hàng tấn của mình. Khổ nỗi, đã là nông dân trong cái thị trường này, muốn trồng trái bí, trái cà, cây rau sạch cũng khó. Bởi không phải ai cũng muốn bơm thuốc cho rau, cho trái nhưng nếu không bơm, khi ra chợ bán, nếu rau nhìn không mướt mắt, trái nhìn không mẩy thì sẽ không bán được, trong khi đó, trồng rau trái sạch khó gấp vạn lần trồng rau trái bơm thuốc. Người nông dân không có đường lui trong việc kiếm cơm, nếu tình hình tiếp tục như đã và đang diễn ra, và cái giá là tự chúng ta giết chết chúng ta, không ngoài ai khác!

Từ khóa tìm kiếm:
Nỗi đau của người nông dân
Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

advertisements
advertisements