Monday, 29/03/2021 - 09:32:40

Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò


(Getty Images)


Bài CHU TẤT TIẾN

Sau khi di cư vào Nam năm 1954, gia đình tui về thẳng Vườn Lài, thuê phía sau một nhà bà người Nam, gói bánh nếp. Bà chủ nhà không kỳ thị như những người Nam khác, mà còn chỉ cho cả nhà tui cách gói bánh, đem ra chợ bán. Sáng nào mấy chị em tui phải dậy từ 3 giờ sáng, ngồi phụ Mẹ gói bánh, đến chừng 7 giờ thì xách cặp chạy đi học. Gặp ông Thầy kỳ thị, cứ chọc quê 3 chị em tui là “chúng mày.. l..ư..ờ..i quá!”

Chữ “lười” ông kéo dài ra rồi cười hi hi.. Mẹ thấy ở đấy không khá, Mẹ chuyển về Khánh Hội, thuê cái nhà sàn có hai tầng, bên dưới là phòng ăn, bếp, và toa-lét. Nói là toa-lét cho nó oai, chứ chỉ là một cái khung gỗ, ở phía dưới có đục một cái lỗ vuông, vừa là phòng tắm vừa là chỗ thả bom cho đàn chuột cống nhào lên, thi nhau đớp. Mấy con chuột cống khốn nạn, chúng nó không biết dơ là gì, cứ vừa đớp xong là mon men leo theo cây cột để lên nhà. Tụi tui cứ phải lấy gậy đập cho chúng rớt xuống bùn mà bùn hôi kinh khủng, hễ nước lên thì bớt mùi, mà khi nước xuống thì ôi thôi, đủ mùi thơm của thế giới xộc thẳng vào mũi.

Mấy ngày đầu thì kinh sợ quá, chị em tui phải lấy dầu cù là nhét cả cục vào lỗ mũi, nhưng dần dần quen, ngày nào không có mùi hôi thì...nhớ. Điều đáng nói là tuy ở đó có hơn một năm chi đó, mà tui bắt chước mấy thằng trong xóm, uýnh lộn tơi bời, thành một thằng du đãng con, hễ hết học là chạy đi khắp xóm, la cà với mấy lũ nhóc, chửi thề văng mạng. Tối tối thì chia phe ra ngoài nhà lồng chợ, đánh kiếm với bọn con trai, hoặc chơi ú tim, chơi rải gianh, nhẩy lò cò với mấy đứa con gái, cuối tuần không đi học thì chơi “tạc hình”, bắn thung...

Tui chế ra cái món phi tiêu bằng đinh, lấy giấy cuốn đít một cái đinh cho thành hình cái phễu, rồi bỏ trong ống sắt, thổi cái phù! Phi tiêu đinh cắm vào gỗ ngon ơ, và đôi khi cắm vào .. người thằng “địch”, chẩy máu… Có khi chơi bắn kim sắt, là mấy cái kim gài giấy (paper clip) bẻ cong, rồi dương giây thung ra bắn địch, sứt da chẩy máu là thường. Về nhà mẹ đánh cho đến khi xương gần gẫy vụn ra, cũng không chừa.

Chừa sao được, khi mà mỗi khi tui ra đường, là mấy đứa nhóc cứ vỗ tay mà réo: “Tây lai ăn khoai cả vỏ, ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột”, tui tức lộn ruột, nghe chúng reo hò là nhào vô thụi liền. (Không hiểu sao, hồi đó, tui giống Tây Lai thiệt, da trắng, mắt nâu, tóc nâu, mũi cao! Chắc giống bà dì tui?) Riết rồi tụi kia ngán, không dám dỡn mặt với tui nữa, mà kết bè để chia phe đánh nhau… Thằng nào cũng khoái về phe tui, vì tui không uýnh thì thôi, hễ uýnh là liều mạng, chết bỏ!

Ham uýnh lộn như thế, nên học dốt, bị Thầy đét đít hoài. Ông Thầy người Nam già, đeo kính trễ xuống mũi, ghét dân Bắc kỳ, nên nếu có chuyện xung đột giữa tui và mấy tên người Nam, thì tui bị uýnh gấp đôi. Ông Thầy bắt tui đứng ép bụng vào tường, lấy cây roi dài bự bằng ngón tay cái, quất thẳng vào đít thằng bé! Đôi khi chỉ vì tui nói: “Tân Sơn Nhất” mà không nói “Tân Sơn Nhứt” là ông uýnh. Nói “học lớp Nhất” mà không nói “học lớp Nhứt” thì cũng bị đòn.

Hôm đó, biết là Thầy sắp đánh đít, tui lấy cuốn vở, nhét vào mông, rồi bình tĩnh đi lên, đứng úp mặt vào tường. Ông Thầy quất tui 3 roi nhưng ngạc nhiên là vì thấy thằng nhỏ hôm nay không nẩy người lên theo mỗi cú quất mà lại nhe răng cười. Ổng tiến lại sờ mông tui, thấy cộm, ông bắt tui tụt quần ra, cuốn vở rớt xuống đất, lòi ra cặp mông trắng lốp, ổng nổi điên, quất tui 10 roi thẳng vào cặp mông đó! Tụi con gái thấy mông tui trắng bóc mà bị đòn thành vệt đỏ lòm, không những không thương, mà còn hú nhau cười. Hôm đó, tui không đi nổi, phải có hai thằng bạn đỡ tui hai bên, mới lê về đến nhà.

Mẹ tui thấy con bị đòn đau quá, bà đi một mạch tới trường, gặp ông Thầy còn ngồi chấm bài, Mẹ tui chỉ tay mắng cho ổng một chập rồi bắt tui bỏ học! Sau đó, Mẹ mua được căn nhà ở khu Vườn Xoài, đường Trương Minh Giảng. Thời gian đó chỉ có Trường Lê Bảo Tịnh mới mở các lớp đệ Thất, Lục, Ngũ, Tứ, nên Mẹ xin cho 3 chị em tui vào học luôn. Cha Hiệu Trưởng cho tui học đệ Thất, hai chị tui học đệ Lục. Tui hồi đó nhỏ con, nên ngồi cùng dẫy bàn đầu tiên với 4 thằng nhóc: Cương, Tý, Năng, và Đức. (Cương về sau thành Giáo Sư Toán nổi tiếng Sàigon, Đức đi Sĩ quan Thủ đức, đánh trận bị cụt tay, Tý biến mất, còn Năng sau khi thi rớt Tú Tài thì bỏ học, làm đủ nghề.)

Có lẽ vì đã mang tính du đãng Khánh Hội nên ngay từ đệ Thất, tui đã uýnh lộn tưng bừng, nhưng không phải vì tính quậy, mà vì tính Lục Vân Tiên, thích bênh người mà uýnh mấy thằng “cồ” gấp đôi tui. Thằng Võ công Tồn, bắp thịt tay lồi lên như con chuột cống, dứ dứ nắm tay vào mặt bọn tui: “tao chấp cả 5 thằng mày!” Tui không nói nhiều, nhào lên, kẹp cổ thằng Tồn đè xuống bàn! Tồn ú ớ, vùng vẫy, xin tha mạng. Khi tui bỏ tay ra, thì nó lại thách “mày dám chơi tao sau khi tan học không?” Tui gật đầu liền. Sau khi trống tan học ra, tui bảo thằng Đức: “Mày nhào vô giật chân nó, tao bóp cổ nó, nghe chưa?” Thế là Võ Công Tồn đại bại, nó bị hai thằng tôi đấm cho tơi bời hoa lá, rồi bỏ chạy. Tồn móc súng cao su ra nã đạn về phía tụi tui, nhưng hụt.

Trong lớp có thằng Lãnh, du côn thứ thiệt, lớn hơn tui khoảng 4 tuổi. Một hôm nó nhéo tai Năng làm tai bạn tui gần rách, tui nhào vô, la lớn: “Mày không được ăn hiếp bạn tao” rồi đấm nó liên tiếp. Tên du côn này chụp lấy tấm giẻ lau bảng quất tui liên tiếp, bụi phấn bung ra làm tui gần tắc thở luôn.

Năm tui học đệ Lục, thì có thằng đệ Ngũ, to cao, tui đứng chỉ tới vai nó, cũng hay bắt nạt. Tên này cũng phải 16, 17 gì đó. Tui nhịn hoài, tức lắm. Một hôm tui lừa nó đứng dạng chân trước cửa lớp, tui xông tới, gạt chân, nó té cái rầm, bật ngửa người ra sau, tôi chồm lên xiết cổ nó và chửi: “Mẹ mày! Lần sau mày còn bắt nạt chúng tao, tao đâm mày chết mẹ mày luôn!” Tên này thấy tui hung hãn quá, chắp tay vái tui, thề không dám bắt nạt nữa. Đó có lẽ là trận đánh cuối cùng ở trường Lê Bảo Tịnh. Tui bắt đầu ngoan. Nhưng chưa hết hoạn nạn.

Hồi đó, tui học môn Anh Văn với thầy H. Thầy dậy hay, nhưng khổ nỗi, Thầy mắc bệnh ..nghiêng về phái nữ. Trong lớp tui, có chị Hằng, lớn hơn tui khoảng 4 tuổi, trổ mã rồi, nên điệu rơi điệu rụng làm thầy H. mê mệt. Thầy chỉ đứng trên bục giảng một lúc là tà tà làm bộ đi xuống dưới để hỏi thăm chị Hằng! Tụi con trai tui ha hồ đùa giỡn. Hôm đó, tui chán quá, bỏ ra ngoài, mà Thầy cũng không biết. Tui ra sau lớp, leo lên bức tường có rào kẽm gai bên trên, từ từ bỏ từng chân một qua bên kia, rồi nhẩy cái vèo xuống vườn sau của người ta, hái trái tầm ruột, khế .. ăn đầy một bụng.

Ngồi ở đó đã đời, rồi mới từ từ leo trở vào. Xui cho tui là đang từ từ nhấc chân lên khỏi hàng rào kẽm gai đầu tường thì Cha Yên, Hiệu Trưởng, đi tới. Tui lặng người, tim ngừng đập mấy giây! Cha hiền từ nói nhỏ nhẹ: "Con trèo cẩn thận, kẻo rách quần! Cẩn thận!" Tui lập cập trèo qua rồi nhẩy xuống, đứng cúi đầu. Cha vẫn hiền lành, bảo: "Con theo Cha vào đây!" Tui líu ríu đi theo. Vào văn phòng Cha, lúc đó có mấy nữ sinh đang đứng chờ. Cha bảo tui đứng trước bàn rồi hỏi: "Con nói thật cho Cha nghe, tại sao con trốn học, trèo tường sang nhà người ta, ăn trộm trái cây!"

Không biết nói sao, tui suy nghĩ một lúc rồi trả lời: "Thưa Cha, con trốn học thầy H. vì thầy hay dê gái!" Cha suy nghĩ một lúc rồi chậm rãi nói: "Con ra góc phòng, lấy cái chiếu dựng ở đó, trải ra, rồi nằm sấp xuống!" Tui "run run như thần tử thấy long nhan, run run như hơi thở chạm tơ vàng" (Hàn Mặc Tử), lấy cái chiếu trải ra, rồi nằm xuống. Cha Yên thong thả lấy cái roi mây dựng sau bàn, quất vào đít tui 5 cái, vừa quất vừa nói: "Cha đánh con cho con chừa cái tật nói thầy giáo dê gái, cho chừa cái tật trốn học, leo tường sang nhà người ta, ăn trộm trái cây nhá!" Lạy Chúa tôi! Lúc ấy tui đã biết thế nào là "ngó gái, tương tư" rồi, mà bị đét đít trước mặt mấy đứa con gái khác, chúng thấy tui bị đét đít, nên cười ngả nghiêng, có đứa cười muốn sặc luôn, phải lấy tay ôm cổ “ặc…ặc…”

Thật ra, tui cũng phải cám ơn Cha Yên vì 5 cái roi của Cha đã gây xúc động mạnh trong tui, nên khi lên Đệ Ngũ, tui học chăm chỉ, thông minh, lại hay giúp bạn làm bài, nhưng môn mà tui giỏi nhất là môn Việt Văn. Tui có thể đọc một hơi cả vài trăm câu Kiều, hay Chinh Phụ Ngâm, hoặc Cung oán Ngâm Khúc. Hễ Cha Yên kêu tui lên trả bài là Cha phải chuẩn bị bảo tui ngừng, nếu không, tui đọc cho đến hết giờ luôn mà không ngừng. Tui còn thuộc cả văn xuôi nữa. Mấy bài văn xuôi của Xuân Diệu, Khái Hưng, Tự Lực Văn Đoàn, tui trả bài như máy, cho nên môn Việt Văn, tui luôn luôn được 20/20, thỉnh thoảng mới có 19/20. Do đó mà cuối năm, tui lại được kêu lên cột cờ, lãnh giải… “Đạo Đức”. (Hồi đó, cuối năm, trường có tổ chức phát giải thưởng “Học Giỏi” và “Đạo Đức” cho từng lớp.)

Đến năm Đệ Tứ, thì bắt đầu rung động trước những mái tóc thề buông thả. Hôm đó, tui ngồi bàn đầu, trông ngay ra cửa. Vô tình liếc ra ngoài cổng, thấy một mái tóc bay lượn trên một tà áo trắng phất phới. Tui mê mải nhìn, không để ý đến Thầy Dậu cũng nhìn thấy tui ngoẹo cổ nhìn ra ngoài. Thầy đến bên tui, ngó theo và biết nguyên nhân, Thầy cầm nguyên cuốn sách Toán đập vào đầu tui và la lên: “Chu Tất Tiến ơi! Thành Chu Tất Thoái mất rồi!”.

Tui xấu hổ quá, muốn độn thổ luôn vì nhóm con gái cười rúc rích như chuột kêu trong lu gạo. Từ đó, mấy cô gọi tui bằng “Chu Tất Thoái” hết. Mà “Thoái” thiệt: tui rớt Trung Học! Phải học “đúp” mới đậu, nhưng rồi tui ăn gian lớp đệ Tam, ghi tên vào học thẳng đệ Nhị Chu Văn An, lớp tối. Trường hồi đó cũng dễ, chỉ nhác thấy cái bằng Trung Học mà không để ý năm thi đậu cho tui vào luôn. Tại đây, tui cũng quậy tưng, và kết quả là thi rớt Tú Tài cái “oạch!”. Cũng không hẳn là tại tui dốt mà vì ông thầy dậy Toán trả thù tôi quậy ổng.

Hồi đó, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, tức Nhà Văn Toàn Phong, Đại Tá Không Quân, đang dậy chúng tôi thì thình lình đi Mỹ để dậy Đại Học Mỹ. Thầy cực kỳ giỏi, nên viết sách Toán bằng tiếng Pháp, tụi tui vừa làm toán vừa mò tự điển ná thở luôn. Rồi Thầy Tr. thay thế. Ổng Thầy này cũng không khá tiếng Pháp nên khi phải giảng tiếp những bài toán dở dang do Thầy Vinh để lại, thì Thầy… bi sắc bí!

Tui còn nhớ như in cảnh Thầy Tr. một tay cầm cuốn sách Toán của Thầy Vinh, một tay cầm phấn, đứng yên trước bảng xanh, miệng lẩm nhẩm như khấn tiên sư. Tụi tui biết Thầy bí, nên xóm Nhà Lá của tụi tui hoạt động tưng bừng! Cái số tui nó khổ, nên nổi hứng lấy giấy gấp lại làm thành cái phi tiêu phóng lên bàn trên cùng, ai dè, phóng mạnh quá, cái phi tiêu bay trúng… gáy Thầy rồi rớt xuống. Nhìn thấy mũi phi tiêu cắm vào gáy Thầy, tụi tui nín thở luôn. Đang bị bí mà còn bị trúng phi tiêu, Thầy nổi điên, quay lại, quát lớn:

“Thằng mất dậy nào phóng phi tiêu đó!”

Nhìn quanh bàn, chẳng thấy thằng nào hó hé, tui giơ tay:

“Thưa Thầy! Em. Em xin lỗi Thầy, em không cố ý!”

Lời xin lỗi của tui như dầu đổ vào lửa, Thầy chửi toang:

-Đ.M. Thằng Tây! Mày tưởng tao không biết mày là thằng quậy nhất xóm nhà lá hả! Tao cho mày biết. Mày liệu hồn. Mày rồi đi ăn mày, ăn xin đó, con ạ!

Thầy chửi xong, rồi cắp cặp đi ra, bỏ lớp hôm đó. Xóm Nhà Lá tụi tui lăn ra cười mà không biết rằng đời tui rồi tàn về việc quậy này.

Hồi đó tất cả các Thầy đều gọi tui bằng “Tây”, chả Thầy nào gọi tui bằng tên cả! Một Thầy gọi là tất cả đều quen gọi theo. Bác sĩ Hoàng Cầm, Giáo Sư Vạn Vật, một hôm gọi:

“Tây đâu? Lên trả bài!”

Tây tửng tửng đi lên. Thầy bảo:

“Tây! Vẽ cho tôi cái rễ cây xem sao!”

Tui tỉnh bơ vẽ cái rễ cắt ngang, nhưng thay vì cắt ngang thì cái rễ phải tròn, trong chứa nhiều lớp bì, bên ngoài là hàng rễ chĩa tua tủa ra các bên, tui vẽ hình cái rễ cắt ngang mà như cái đầu thỏ, chỉ có hai cái lông, mà lông thật to dựng lên phía trên như hai cái tai thỏ. Thầy Hoàng Cầm đứng cuối lớp, nói lớn:
“Tây! Cái lông của anh to quá!”

Thế là cả lớp cười ầm ầm, chúng nó đập tay xuống bàn, gào lên: “Lông của thằng Tây to quá!” làm thầy Hoàng Cầm phải dựa vào bàn học trò mà cười rung cả người.

“Ngày vui ngắn chẳng đầy gang”. Ngày thi đã đến. Tui đi thi ở trường Võ Trường Toản. Lớp ở trên lầu. Các môn Việt, Anh, Pháp thì ok, nhưng đến môn Toán thì “bi sắc bí”. Tui ngồi cắn bút, nhìn lên trần nhà, xem có bà tiên nào đến “cứu bồ” không. Tiên chẳng thấy, lại thấy ngay Thầy Tr. làm Giám Thị Hành Lang (Giám Thị Hành Lang là người trông coi tất cả các lớp thi, coi chừng cả hai thầy Giám Thị trong lớp thi). Thấy tui, thầy Tr. tiến lại, hất hàm:

“Thằng Tây! Mày làm bài được không?” (chỉ có mình Thầy Tr. là gọi học trò bằng Mày, Tao!)

Tui nhe răng cười cầu tài:

“Dạ, thưa Thầy, em chưa làm được! Thầy… cứu em với!”

Biết tui bí, Thầy Tr. khoái chí, bĩu môi cười tủm, rồi bỏ đi. Hỏi là hỏi vậy thôi, chứ biết chắc là Thầy chẳng giúp đâu. Tui bèn ngồi, tập trung, suy nghĩ. Chợt tìm ra đáp số, tui viết lia lịa. Thầy Tr. từ lúc nào vẫn theo dõi tui, bất chợt thấy tui viết như máy, thì nghi ngờ. Thầy bước vào phòng, ra hiệu cho hai vị Giám Thị kia đến bàn tui, hất hàm, phán một câu kinh hãi:

“Mày cọp dê, phải không?”

Tui bực quá, lắc đầu. Không tin tôi, Thầy Tr. ra lệnh cho thầy Giám Thị khám tui! Thầy nam rờ tui từ đầu đến chân, rờ trước, rờ sau, không tìm ra bài cọp dê nào cả! Bực bội vì không trả thù được, Thầy Tr. chơi một đòn ác liệt:

“Mày lấy giấy, bút lên bàn kia mà ngồi làm bài.”

Trời ạ! Mỗi phòng thi có một cái bàn đặt trên một cái bục cao, chình ình trước bảng đen. Tui lập cập đi lên, ngồi trên bàn quay mặt xuống các thí sinh ở dưới! Nhục nhã quá! Tui như một phạm nhân phải chịu nhục hình! Máu xông lên đầu! Tui không nói được gì, chỉ khóc lặng lẽ. Nước mắt tui chẩy ướt giấy làm bài. Ngồi một lúc, tui đứng dậy, vất tờ giấy thi trên bàn rồi đi ra, vừa đi vừa khóc. Xuống tới dưới lầu, tui đang đi ra kiếm xe đạp, thì thầy Tr. đứng ở trên lầu, chống tay vào ban công, nhìn xuống dưới, gọi để chọc quê tui:

“Tây! Mày làm bài được không?”

Tui ngước lên, gật gù:

“Tạ ơn thầy. Nhờ Thầy mà em làm xong sớm!”

Lúc đó, tui nghiến răng lại để khỏi tặng tiếng Đan Mạch cho ông Thầy vô đạo đức này. Hồi đó mà thanh niên mà rớt Tú Tài là đời tàn vì có câu rằng: “Rớt Tú Tài, anh đi Trung Sỹ. Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con!” Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên, cũng rớt Tú Tài nên làm bài thơ: “Thà như giọt mưa!.. Người từ trăm năm, Về qua Trường Luật. Ta hỏng tú tài. Ta hụt tình yêu.. Thi hỏng mất rồi, ta đợi ngày đi…đau lòng ta muốn khóc!” Không có bằng Tú Tài mà đến tuổi đi lính thì vào trường Hạ Sĩ Quan, ra trường Trung Sĩ. Nếu có bằng Tú Tài thì trở thành Sĩ Quan. Tui may mắn là hồi đó được Miễn Dịch vĩnh viễn vì gia đình có 3 anh em trai, mà 2 anh đã ở trong lính rồi, thằng Út được ở nhà. Nếu không thì …

Thôi! Kệ! Bây giờ già rồi, nghĩ lại cũng thấy đúng số mạng cho đời tui được như ngày này là do hai vị Thầy: Thầy thứ nhất là Thầy Tr. đã cố tình làm nhục để đánh rớt tui, để rồi cộng thêm vào đó là những đòn tàn nhẫn của cuộc đời khiến cho tui “ba chìm, bẩy nổi, chín chục cái lênh đênh”, không nhà, đói rách liên miên, rồi trở thành du đãng, cướp giật, uýnh lộn, đâm chém từ Lăng Cha Cả đến Xóm Mới, không tội lỗi gì mà không phạm. Tứ đổ tường, tui chơi hết, rượu nốc từ chai, xì ke Thái Lan hút xong là té bật ngửa, đánh bạc suốt đêm bên cạnh những nàng mặc áo hở từ cổ xuống bụng. Chưa tới 20 mà dung dăng dung dẻ trên Lê Lợi, Bonard, với những nàng phấn son lòe loẹt, trang phục độc đáo mà chỉ cần liếc qua đã biết ngay là dân làm nghề buôn hương, bán phấn.

“Ông Ác” trong tôi lúc đó, giục tui bỏ Chúa, bỏ Nhà Thờ. Nhưng đồng thời, lại có Vị Thầy thứ Hai, “Ông Thiện” là Cha Trịnh Việt Yên với 5 cái roi và những lời giảng dậy ân cần trong 2 năm Đệ Ngũ, Đệ Tứ. Cha nêu ra những gương phấn đấu của Nguyễn Bá Học, gương yêu nước của Nguyễn Thái Học, những bài phú ngoan cường của Cao Bá Quát, khiến mỗi khi đến tận cùng của tuyệt vọng, tui lại cố ngoi lên. Dần dần, cùng với sự khuyến khích của vài “Ông Thiện” khác, tui đã vượt lên cả về học vấn, quân sự, dân sự, và xã hội với những địa vị đáng nể.

Mới 28 tuổi, đã được đề bạt làm Quận Trưởng, nhưng tui từ chối vì vẫn nghĩ mình vốn là một kẻ lãng du, không thích hợp với chính trị. Sau đó, vận hội kinh tế của tui bất ngờ lên cao, chưa 30 tuổi đã sở hữu một cơ sở khổng lồ, nếu không có ngày 30 tháng 4 thì không biết tiến tới đâu nữa. Sang Mỹ năm 1990, vẫn nhớ đến câu danh ngôn của Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, nên đi làm 10 tiếng 1 ngày, học ở trường thêm 5 tiếng nữa, làm bài tại nhà 2 tiếng, tổng cộng 17 tiếng, còn lại là để ăn cơm, tắm và ngủ. Vừa học vừa hành hơn 14 năm trời tại các trường Đại Học mới ngưng. Bây giờ trở thành “bầu sô”, chuyên tổ chức ca nhạc phục vụ cộng đồng.

Cám ơn nhạc sĩ Vũ Thành An đã có những câu nhạc hay tuyệt vời: “Hãy cố vươn vai mà đứng, tô son lên môi lạnh lùng. Hãy cố yêu người mà sống. Lâu rồi đời mình cũng qua” (Bài Không Tên số 5.)
(29 tháng 3, 2021)

SPONSORED LINKS - LIÊN KẾT TÀI TRỢ

Từ khóa tìm kiếm:
Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

Advertising