Tuesday, 13/02/2018 - 08:25:53

Nhân ngày Valentine

Bài HOÀI MỸ

“Valentines Day” được phần đông người Việt mình gọi nôm na là “Ngày Tình Nhân.” Đúng hay sai, không thành vấn đề để tranh cãi khi chủ đích vẫn duy trì được ý nghĩa về Tình Yêu bất kể ở tuổi tác nào, hoàn cảnh nào, địa vị nào... Chẳng thế mà vào ngày này, đa số cặp vợ chồng cũng vẫn tặng nhau quà cáp và diễn lại những màn “rố-măng-tích” thuở xưa, trong đó không thể thiếu mục đi... ăn tiệm.

Đã nói về YÊU thì biểu tượng số 1 luôn luôn phải là Trái Tim. Ớ bất cứ đâu trên thế giới này cũng vậy thôi. Chẳng cần ai phải bảo ai. Trên các quà cáp tặng nhau vào dịp “Valentines Day,” từ kẹo bánh tới cái bóp, cái “cà ra oắt,” đồ trang sức... tới bong bóng, quần lót, nước hoa... thẩy đều được trang trí đầy hình trái tim.
Xem thế, tầm quan trọng của trái tim được đề cao thấu tận trời xanh khiến người ta có cảm tưởng chỉ những người có trái tim lành mạnh, đàng hoàng mới có thể... yêu được và yêu đúng nghĩa. Còn như nơi những kẻ sở hữu “trái tim khô” vốn bị đã bị đánh giá là “khô khan,” “sắt đá” hay “vô cảm”... thì dường như tình yêu nếu có ắt không méo mó, thì cũng lộn đầu, ngược đuôi, tóm lại là không đúng nghĩa?

Quan niệm cổ về TIM

Nói như trên thì mặc nhiên đã công nhận tim là nguồn gốc tình cảm. Thế nhưng vào thuở xưa thật xưa, tim gần như chẳng liên quan gì đến lãnh vực tình cảm, nhưng chính cái bụng quyết định tất cả. Không thế mà thành ngữ Việt Nam đã chẳng mách đường chỉ lối cho thiên hạ để có thể hiểu được nhau, đoán được ý của nhau bằng cách: “Suy bụng ta ra bụng người.” Đồng nghĩa với “bụng” có chữ “lòng,” thế nhưng, “Dò sông dò biển dễ dò; Nào ai lấy thước mà đo lòng người.” Khi cặp trai, gái yêu nhau thật rồi thì các cụ gọi là “phải lòng nhau.”

Trong khi đó “cố thủ” trên phần ngực chỉ có hai bộ phận chính yếu: Phổi và Tim. Thế nhưng, cũng vẫn vào thuở “ngày xửa ngày xưa” ấy, cổ nhân tuy cũng chú ý đến phổi và tim để giao phó cho bổn phận mang tính tình cảm nhưng không “nặng ký” so với vai trò của các “đồng nghiệp” dưới bụng, cách riêng tim dường như không có chữ Nôm điển hình nào, trừ “tim đen” nhưng từ này mãi thời cận đại mới ra đời để chỉ sự thầm kín nhất trong lòng người ta, thí dụ: “Nói trúng tim đen”; tuy thế lại được sánh đôi với Hán tự “tâm” với ý nghĩa về tình cảm đồng thời để mang một nghĩa rộng rãi chỉ phần thần trí của con người hầu suy nghĩ, hiểu biết, cảm giác, thí dụ: “Khẩu phật, tâm xà” (T-ngữ), “Thiện căn ở tại lòng ta. chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” (Kiều)

Thời đại TIM... lên ngôi?

Thế rồi cũng y trang định luật thiên nhiên “vật đổi sao dời,” vai trò và chỗ đứng của các nội tạng trong cơ thể con người cũng thay đổi, chuyển biến.... để rồi từ đó (?) cho tới nay và rất có thể mãi mãi sau này TIM lên ngôi bá chủ trong lãnh vực tình cảm của con người. Theo đó, trái tim là nơi phát xuất cũng như đón nhận đủ thứ tình cảm của “chủ nhân,” cách riêng về yêu thương, ghen ghét.

Điều đáng nói, sự lên ngôi của tim không chỉ diễn ra ở riêng một dân tộc hay địa phương nào mà trong hầu hết nền văn bóa, trên toàn cầu. Nói cách khác, biểu tượng cổ điển của tình cảm và đặc biệt của ái tình chính là trái tim vậy.

Thế nhưng, câu hỏi “tại sao” và “từ bao giờ” thì cho tới nay và rất có thể mãi mãi sau này vẫn không có câu trả lời chính xác. Có lẽ - “có lẽ” thôi đấy nhé! - trái tim gắn liền một cách tự động với sự sống; không tim thì chẳng thể có sự sống. Những tần số (nhịp) của tim chịu ảnh hưởng bởi tình cảm, chẳng hạn khi ta sợ, tim đập thình thình như muốn làm bể lồng ngực - lúc gặp người yêu, tim chẳng đập nhanh hơn là gì? - cơn tức giận cao độ thừa sức khiến tim đau nhói đến mức ngừng đập. Có lời quả quyết rằng tim phải được yêu - hay trái tim cần tình yêu - chẳng thế mà tình yêu được “đánh giá” là thần dược kéo dài tuổi thọ, trong khi sự cô đơn tác động ngược lại. Ai mà chẳng đã từng nghe: “Hắn chết vì tuyệt vọng”; nôm na là “tim bị bóp vỡ.”
Cũng vì danh tiếng của tim mà trong bất cứ lãnh vực nào người ta cũng mang hình tượng tim vào: Thi văn, hội họa, âm nhạc, điêu khắc, tôn giáo, nữ trang, vải vóc, y phục, quà cáp, kẹo bánh, thực phẩm... và cả trong công viên, nhiều thân cây vô tội mà cũng bị xẻ da róc thịt với hình trái tim; trên mặt tường công cộng, kể cả tường nhà thờ nhà thánh, chùa chiền trang nghiêm cũng “lãnh đủ” hình tượng tục lụy này... Thôi, kể ra khôn xiết!

Mà cũng lạ, chẳng ai bảo ai mà ai cũng thừa biết ý nghĩa của hình trái tim. Trẻ chưa đọc/viết được các mẫu tự nhưng đã vẽ ngon lành được trái tim. Ở các vườn trẻ chẳng hạn, con nít đúng là còn hôi mùi sữa, vậy mà vẫn tạo được hình trái tim để mang về tặng mẹ mà chẳng cần “phụ đề” gì cả cũng khiến mẹ rơi lệ vì cảm động.

Thể nào cũng có độc giả phê phán là người viết đã tự mâu thuẫn, bởi một khi đã quả quyết “ ai cũng thừa biết ý nghĩa của hình trái tim” thì cần gì phải diễn giải thêm phần dưới đây. Nhưng... nếu không cho tôi nói ra, e tôi sẽ bị “tức như bò đá” vì uẩn ức nên thà bị chê còn hơn chết bởi... bể tim. Vâng, đại để thì hình một trái tim héo úa có nghĩa chỉ sự cô đơn hoặc cùng lắm là “thích” hay “mến, thương”... chứ chưa đến mức độ “yêu.” Hình hai trái tim xoắn vào nhau thì có chết đi nữa cũng nhận biết hai kẻ này đang yêu nhau ra rít. Còn trái tim bị một mũi tên xuyên qua ắt “tố cáo” chủ nhân đang lâm cảnh thất tình hoặc vừa bị “bồ đá”...

  

Thần Trái Tim hay thần Ái Tình

Đây không hẳn là “lý giải” thật sự cho việc giải thích nguyên nhân “tim là nguồn gốc của tình cảm nói chung, ái tình nói riêng,” tuy nhiên đây cũng vẫn được xem là một lối thoát nghe tương đối... thuận tai; ấy là do thần linh. Từ thời cổ đại, cổ nhân của bất cứ dân tộc nào, cứ gặp ngõ bí, lại đổ lỗi cho... thần thánh. Nhân danh thần để giải thích mọi sự nan giải. Có thần mọi thứ cũng xong! Chẳng thế mà dân tộc Nhật Bản lại chẳng hãnh diện mình là con cháu của Thái Dương Thần Nữ đó sao? Người Trung Hoa cho tới nay vẫn nhận mình là Thiên Tử, tức con trời! Với dân tộc Việt mình, lịch sử cũng ghi: “Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là dòng dõi Long Quân, nhà người là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải.” (Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim)

Với trái tim, với tình yêu của nhân loại cũng vậy thôi: Do thần! Trong thần thoại La Mã, thần Ái Tình tên là Cupid hay Amor nhưng người Ai Cập gọi là Eros. Cupid hay Amor hoặc Eros là con trai của nữ thần Afrodite. Theo thần thoại, Afrodite sinh con trai mình trên đỉnh một vỏ sò. Trong ba danh hiệu này, Amor thông dụng nhất. Tiếng Pháp “amour” là tình yêu hay ái tình phát xuất từ tên thần Amor.

Thần Tình Yêu Amor thường “đội lốt” một thanh niên cỡ tuổi choai choai, bốn mùa vẫn cứ “vô tư” trần như nhộng, với đôi cánh vàng sau lưng. Thần bay đến đâu cũng luôn luôn mang trong tay một mũi tên, một cây cung và sau lưng đeo lủng lẳng một ống đựng đầy mũi tên mới toanh, dĩ nhiên còn trinh nguyên. Gặp cặp trai gái nào ở trần thế mà thần muốn cho yêu nhau, kết duyên với nhau, thần liền bắn mũi-tên-tình-yêu vào tim của mỗi “đối tượng” ấy tức thì hai người này “phải lòng nhau,” chiu “hơi nhau” ngay đến sét đánh cũng không rời rồi rời bỏ cả cha mẹ lẫn nhà cửa... mà quyết chung sống với nhau dù chỉ trong một túp lều cho đến khi “bách niên giai lão”...

Vậy rõ ràng nhé, hy vọng quí độc giả nay đã “nắm vững vấn đề” vế nguồn gốc tình yêu và hiểu được lý do tại sao chàng này lại cứ chết sống yêu nàng kia và ngược lại, trong khi không thiếu những “đối tượng” khác “ngon lành” hơn nhiều về mọi mặt! Tiếc rằng nhiều “người trần mắt thịt” vẫn ngộ nhận mà qui về nguyên nhân “duyên số” nên mới quả quyết “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ; vô duyên đối diện bất tương phùng” hay “phải duyên thì gắn như keo; trái duyên đễnh đãng như kèo đục vênh” (Ca dao); hay như Thúy Kiều khi vừa gặp Kim Trọng tuy “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” mà vẫn chưa dám “chắc ăn,” vẫn băn khoăn: “Trăm năm biết có duyên gì hay không?”

Vẫn theo thần thoại La Mã, biểu tượng của tình yêu là trái tim “được” một mũi tên khoan xuyên qua, với một hai giọt máu rỉ xuống. Mũi tên này chính là mũi-tên-tình-yêu của thần Amor đấy. Bởi thế cho tới nay và có lẽ sẽ vĩnh viễn, tất cả những cặp tình nhân, kể cả những cặp vợ chồng trên khắp thế giới vẫn sử dụng gần như duy nhất biểu tượng này để “khoe” với bá quan văn võ là họ đang hoặc vẫn yêu nhau ra rít.

Thế nhưng, tuy là... thần, Amor cũng nhiều lần thất bại khi bắn trật lất tim của “nhân vật chính” hoặc bắn tim người nọ lại trúng tim kẻ khác. Đấy chính là động lực đưa tới những trường hợp yêu đơn phương, yêu một chiều hay thất tình hoặc tình cảnh lục đục, “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” để rồi đau khổ đến “can không nổi,” rồi tự vẫn hay “anh đường anh, tôi đường tôi; tình nghĩa đôi ta có thế thôi.” Đó là chưa kể những trường hợp “tréo cẳng ngỗng” khi thần bắn một mũi tên vào tim một trinh nữ, trong khi mũi tên kia lại trúng tim của một người đàn ông đã có vợ con đùm đề - hay ngược lại, một trai tân lại cứ nằng nặc yêu như điếu độ một phụ nữ nạ dòng!

(Mạn phép mở dấu ngoặc. Phải chăng những cặp đồng giới luyến ái cũng là bởi hậu quả bắn trật, bắn lầm của thần Amor để rồi mới xảy ra cảnh “râu ông nọ cắm cằm bà kia”?)

Lại nữa, cũng đáng tiếc là thần thoại La Mã kể trên đã không giải thích trường hợp những người vì hoàn cảnh nào đó, chẳng hạn tình yêu tan vỡ hoặc tình nhân hay bạn đời “ra đi vĩnh viễn” trước giai đoạn “đầu bạc răng long”... để rồi người này lại gặp được mối tình mới, lại yêu đắm đuối nhiều khi lại đậm đà hơn cả lần trước. Vậy phải chăng tim họ lại “được” trúng mũi tên mới khác của thần Amor?

Vả lại, bản tính con người vốn “tham vô đáy,” kể cả trong lãnh vực ái tình, bởi thế ngôn ngữ Việt Nam mới lấy tên của một ngôi sao trong số Tử Vi là Đào Hoa để chỉ cách riêng các đấng mày râu và mỹ nhân nào có sức thu hút đối phương khác phái? Không lý những người này đã và vẫn được thần Amor thương riêng và bắn nhiều mũi-tên-tình-yêu vào trái tim họ? Nếu đúng, ta có thể xác quyết tim của những người yêu nhiều lần và các kẻ “đào hoa” mang nhiều vết... thẹo (sẹo) lắm.

Sau hết, không thiếu trường hợp mũi-tên-tình-yêu của thần Ái Tình Amor không “work,” không tác động giống như trường hợp một viên đạn lép, đạn thối, nghĩa là không nổ. Như trên đã kể, mục đích thần Amor bắn tên vào tim của một đội trai gái nhằm để hai người này yêu nhau rồi xe duyên với nhau. Vậy giải thích sao đây khi đã yêu rồi mà vẫn kẻ nam, người bắc hoặc những cặp tình nhân cứ khăng khăng nhân danh “tình yêu lý tưởng” để chỉ yêu nhau “suông,” yêu nhau kiểu “chay tịnh” thôi chứ không thể hiện giấc mơ “túp lều lý tưởng với hai trái tim vàng” mặn nồng chăn gối rồi sinh con, đẻ cái...

Bởi những “rắc rối sự đời” nêu trên mà người ta vẫn thường than thở rằng: “Ái tình là cái chi chi” - nghĩa là không thể giải thích được, bất khả hiểu nồi - nhưng “dẫu chi chi, vẫn chi chi với... tình”!

Hôn nhân và Thiên Nga

Vâng, như trên đã tường thuật biểu tượng của tình yêu là hình trái tim. Vậy thì trên nguyên tắc, ở giai đoạn nào trong cuộc đời, hai kẻ yêu nhau vẫn có quyền sử dụng dấu chỉ chung này, tuy nhiên trong thực tế vẫn có sự phân biệt biểu hiệu; theo đó hôn nhân đã được dành riêng cho hình ảnh đôi thiên nga. Ai hay thần linh nào là tác giả? Và có từ bao giờ? Cũng chẳng có câu giải đáp thỏa đáng, chỉ có thể giải thích tổng quát rằng hôn nhân và thiên nga vốn liên hệ mật thiết với nhau.
Thiên nga vốn là loài chim thanh nhã với chiếc cổ dài, biết chọn “bạn đời” khi “tuổi đời” còn non. Thiên nga theo đạo... “một vợ một chồng,” chung thủy trọn kiếp. Chẳng may một trong hai con chết sớm; con còn lại đành cam cảnh góa bụa cho tới cùng, thui thủi cô quạnh cho dù có gặp một “đối tượng” mới hay cùng cảnh ngộ.



Nhìn cảnh tượng thiên nga âu yếm nhau, con người ai cũng cảm nhận ngay được tính lãng mạn, thơ mộng. Chúng rất từ tốn trong các bộ điệu cọ cổ vào nhau. Bởi thế không lạ khi người ta đã lấy hình ảnh tình tứ của thiên nga để trưng bày trong các dịp đám cưới và lễ hội.
Cặp tình nhân nào cũng vậy, đều hy vọng, ước muốn trong cuộc sống, bất chấp mọi sự - giống như thiên nga - bền chặt bên nhau... trọn đời! (hm)

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp