
Nhà văn Huy Phương tại tòa soạn báo Viễn Đông – ảnh: Phụng
Linh/Viễn Đông.
Phụng Linh/Viễn Đông (thực hiện)
Nhà văn Huy Phương tên thật là Lê Nghiêm Kính, sinh năm 1937
tại Huế. Ông dạy học tại Quảng Trị; Sĩ quan trừ bị Thủ Đức khóa 16; học khóa sĩ
quan báo chí tại Hoa Kỳ; biên tập viên báo chí và phát thanh; phụ trách tòa
soạn chiến sĩ Cộng Hòa và Tiền Phong - Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa; cựu trưởng
phòng Tâm lý chiến và chính huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.
Sau năm 1975, ông bị tù cộng sản 7 năm trước khi đến Hoa Kỳ
vào năm 1990.
Nhiều nhận xét dành cho văn ông như sau:
“Đàng sau mỗi chữ, mỗi câu của ông dùng đều giấu một nụ cười,
một giọt nước mắt. Và chính điều đó làm nên sự hấp dẫn trong các trang sách của
Huy Phương”. (Nguyễn Đình Toàn).
“Ông có lối viết dễ yêu. Ông có phong cách của 1 nhà giáo.
Ông viết trầm tĩnh, nhận xét tinh tế. Ông viết chừng mực, lối viết của một con
người hiền lành và nhân hậu” (Bùi Bảo Trúc).
“Với những chữ nghĩa trầm lắng, nhân hậu nhưng không thiếu điều
xót xa. Huy Phương từ tấm lòng mà viết nên ‘Nước Mỹ Lạnh Lùng’ và giờ đây là ‘Đi
Lấy Chồng Xa’” (Phan Nhật Nam)...
Viễn Đông: Theo ông, một nhà văn muốn
thành công trên đường văn nghiệp thì phải như thế nào, nhất là ở hải ngoại?
Nhà văn Huy Phương: Hiện nay nhà văn Việt Nam ở hải ngoại không nhiều và
gọi là thành công thì rất khó. Tôi viết tạp ghi là đặt một vấn đề, thông qua
một sự việc có thật ngoài đời để nói lên một tâm tình nhắn gửi đến người đọc.
Theo tôi, văn chương không phù phiếm mà có một sứ mệnh, làm cho cuộc đời tốt hơn;
không phải viết để châm chọc, để hạ người ta xuống.
Bản thân tôi là gốc nhà giáo, theo đạo Phật nên văn tôi thấm
nhuần hai tinh thần đó cộng với đạo lý Á Đông. Có người nói sách tôi là “luân
lý giáo khoa thư” vì đọc thấy trong mỗi chuyện viết ra một thông điệp chuyển đến
cho người đọc, hàm ý xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Như tác phẩm “Đi Lấy
Chồng Xa” chẳng hạn là câu chuyện mà mới đọc tưởng là tiểu thuyết. Sự thật, đó
là tác phẩm nói về hoàn cảnh của gia đình tôi ngày xưa. Hồi ấy, gia đình tôi ở
Huế, chị tôi lấy chồng ở Quảng Bình. Khi đất nước bị chia cắt, chị không trở về
được. Đến khi về thì cha mẹ đã qua đời. Bây giờ xã hội Việt Nam có biết bao
nhiêu người con gái đi lấy chồng xa không phải vì tình yêu mà vì hoàn cảnh đưa đẩy,
vì đồng tiền. Tạp ghi của tôi là những câu chuyện ngăn ngắn, dễ đọc, làm xúc động
lòng người.
Có người nói rằng văn Huy Phương không chinh phục được trí
tuệ nhưng chinh phục được con tim người đọc. Những gì được tôi viết ra là những
lời tâm tình, cung cấp hiểu biết chứ không “dạy” người đọc chuyện này chuyện
nọ, mà nói chuyện đời để làm người đọc cảm động. Trong phần kết luận 4 tạp ghi đã
xuất bản của tôi thường đưa tới suy nghĩ làm cho người ta xúc động, khiến người
ta ngậm ngùi, xót xa. Trong những vấn đề của con người được đặt ra có một phần
nói về quá khứ, một phần về cộng đồng, quan trọng nhất là cái nhìn của người xa
quê hương hướng về quê hương với nỗi bất bình. Đó không phải là những lời hô
hào chống cộng, mà là nỗi xót xa về hoàn cảnh đất nước. Hạnh phúc của người
Việt Nam chúng ta bây giờ không trọn vẹn. Chúng ta là người tị nạn hiện đang
sống rất hạnh phúc, nhưng khác với người địa phương vì chúng ta là người ly hương,
mồ mả cha ông nằm lại Việt Nam mà chúng ta không hy vọng được sớm trở về nên
nặng nỗi xót xa. Chúng ta không giống nhiều cộng đồng khác như người Hoa ở đây
chẳng hạn.
Viễn Đông: Nhà văn thường sống và viết
nên nỗi cảm xúc của mình. Ông tạo cảm xúc và nuôi dưỡng cảm xúc của mình như
thế nào?
Nhà văn Huy Phương: Một câu chuyện trên đài phát
thanh, một mẩu chuyện được người bạn kể lại ở trong quán cà phê hay một mẩu tin
đọc được trên báo đều tạo có thể nên cảm xúc và trở thành đề tài của tôi… Chẳng hạn như trước đây đọc tin trên báo cho
biết tại một ngôi làng ở Nga có một anh chàng làm đơn xin cưới một con bò cái
làm vợ. Chuyện nghe tưởng bình thường nhưng với tôi thì đó là điều vô cùng xót
xa, xót xa vì tất cả con gái trong làng đã bỏ về thành phố bán cà phê dẫn đến
thân phận cô đơn đầy đau đớn của người thanh niên nọ. Câu chuyện có thật mỉa
mai được đem ra để nói về thân phận của người con gái Việt Nam. Trong mỗi
chuyện, tôi rất coi trọng đến đoạn kết. Trong tạp ghi Đi Lấy Chồng Xa, tôi viết
rằng “chị như cánh lục bình rời xa con rạch cũ, lỡ trôi giạt ra tới biển Đông,
không bao giờ trở lại nhánh sông xưa”, để bày tỏ nỗi băn khoăn về thân phận của
kiếp người.
Viễn Đông: Có phải một điều thực tế hiện
nay là thị trường văn học Việt Nam ở hải ngoại nói chung và tại Hoa Kỳ hiện nay
không lớn vì không phải người Việt hải ngoại nào cũng đọc được tiếng Việt, nhất
là giới trẻ. Ông có băn khoăn về điều đó không, thưa ông?
Nhà văn Huy Phương: Tôi đã viết khoảng 50 tạp ghi cho
mỗi cuốn sách, có 3 cuốn đã in và tái bản nhiều lần, như cuốn “Ấm Lạnh Quê Người”
đã được in lần thứ ba. Theo tôi, bây giờ cũng còn người đọc, đặc biệt là lớp người
Việt lớn tuổi còn biết tiếng Việt, hoặc lớp 40 – 30 tuổi mới sang đây tìm đọc
sách Việt ở Mỹ. Nhiều người nói sách ở đây viết khác với bên nhà, và tìm thấy
trong đó một thái độ, cung cách mới mẻ của người viết. Không nên bi quan về người
đọc.
Viễn Đông: Ông bắt đầu viết từ lúc nào,
thưa ông?
Nhà văn Huy Phương: Những tác phẩm đã phát hành là
Mắt Đêm Dài (thơ, 1960), Mây Trắng Đồn Xa (truyện, 1966), Nước Mỹ Lạnh Lùng (tạp
ghi, 2003), Đi Lấy Chồng Xa (tạp ghi, 2006), Ấm Lạnh Quê Người (tạp ghi, 2007),
Nhìn Xuống Cuộc Đời (tạp ghi, 2009), Những Người Muôn Năm Cũ (truyện, 2009),
Chân Dung 1 H.O. Còn “Hạnh Phúc Xót Xa” hy vọng kịp ra mắt trong mùa hè này.
Viễn Đông: Theo ông, nhà văn Việt ở hải
ngoại có thể sống được với nghề viết, nhất là các nhà văn được gọi là thành
công?
Nhà văn Huy Phương: Thành công, tức là tác phẩm có
nhiều người đọc không có nghĩa là người viết có thể sống được bằng nghề nhà văn.
Hiện tại, người làm báo có thể sống được nhưng người viết văn thì không. Như
tôi chẳng hạn, một – hai năm mới tập họp lại các câu chuyện tạp ghi của mình
lại để in ra. Còn truyện ngắn thì họa hoằn vào dịp Tết mới được đăng. Có ai đi
bán truyện ngắn của mình được đâu vì ngày thường không có báo nào trả tiền để đăng
truyện ngắn. Nhiều người in sách và bỏ nằm trong garage cũng nhiều.
Từ ngày tôi đặt chân đến Mỹ năm 1990 thoạt đầu viết truyện,
làm thơ nhưng đăng báo chỉ để vui chơi thôi. Năm 2002, tôi nghỉ hưu mới thu thập
những mẩu chuyện đã đăng báo để xuất bản cuốn Nước Mỹ Lạnh Lùng. Tôi viết về
những vấn đề của chính mình hồi mới qua Mỹ, những nỗi xót xa của người tha hương
mới đến đây khi nhìn sự việc, nhìn nước Mỹ, nhìn những chuyện xảy ra trong cộng
đồng… và dần dà thấy lòng mình khoan dung, hòa hợp được với người chung quanh.
Từ 2002 trở đi, tôi viết đều tay hơn, tính ra đã in 4 cuốn sách, tất cả đều là
tạp ghi, không kể một cuốn bút ký và truyện ngắn.
Viễn Đông: Vậy có thể nói, tạp ghi là
những mẩu chuyện lòng của nhà văn?
Nhà văn Huy Phương: Tạp ghi là những câu chuyện kể
những gì đang xảy ra trước mắt, trong cộng đồng và tại quê nhà. Trong quá khứ
có những mối tình, những chuyện xảy ra ở Huế thời phong kiến, liên quan đến lăng
tẩm thành trì, đến lòng người, phong tục, bản chất của người Huế xưa, trong đó
có vài chuyện về người tù nói về bản thân tôi. Cũng có mẩu chuyện phản ảnh về đời
người lính, chuyện của tôi trong thời kỳ ở Quân Đội từ năm 1963, tổng cộng 12 năm.
Sau 1975, tôi đi tù cộng sản 7 năm cho nên có những mẩu chuyện của người tù.
Mới qua Mỹ, tôi thấy lạc lõng nỗi sống xa quê hương phải làm việc tay chân, cực
khổ thì có những mẩu chuyện nói lên điều đó.
Viễn Đông: Ông viết có dễ và nhanh không,
thưa ông?
Nhà văn Huy Phương: Người viết văn hay làm thơ thì
phải chờ cảm xúc đến. Còn với thể loại tạp ghi, một mục xuất hiện trên báo Người
Việt ở Nam California vào mỗi Chủ nhật, tôi phải kiếm đề tài vào đầu thứ Hai và
chậm lắm tối thứ Sáu phải giao bài. Viết báo không tùy hứng được. Khó chứ không
dễ. Sắp tới lúc giao bài thì phải ngồi vào bàn. Hồi Tết rồi, đề tài của tôi là đồng
tính, vấn đề đang được nhiều người quan tâm. Có thể nói rằng tôi viết ngay
thẳng, không sợ mất lòng. Tạp ghi “Bác sĩ không là gì khác” có thể làm người
khác mất lòng nhưng đó là vấn đề làm tôi băn khoăn cần phải được đặt ra. Theo
tôi, người cha đăng báo chúc mừng con mình tốt nghiệp bác sĩ y khoa là trái
phong tục, là khoe danh. Cách đây mấy tháng trên chương trình Tử Vi có một ông
có con trai 3 tuổi rưỡi nhờ thầy coi sau này cháu học bác sĩ được không. Tôi băn
khoăn về tình trạng cổ hủ của một số người Việt qua đây chưa thích nghi với xã
hội mới, chưa thông cảm với giới trẻ mà cứ ép buộc con học làm bác sĩ.
Tôi lại càng không thể làm ngơ trước thảm cảnh đàn bà Việt
trong nước đi ngoại quốc lấy chồng. Con gái Việt trong nước bây giờ làm điếm 10
phương. Xúc động trước thảm cảnh đó, tôi nói lên thân phận con người trong chế độ
cộng sản - không chỉ là kẻ thù của nhân dân mà cả với tổ quốc Việt Nam.
Nhà văn phải thật với con người mình. Mình không tin thì
không viết ra vì viết và nói ra không đủ năng lực thu phục người khác. Chữ
nghĩa phải chân thật, không khoa trương, không lộng ngôn, không làm cho kêu.
Nội dung phải là những điều xuất phát tự lòng mình. Viết gượng ép, không thật
với lòng thì không bao giờ thành công. Tác phẩm có nhiều người đọc có thể gọi
là thành công, chưa chắc thành công về tài chính, và ngược lại. Người viết
truyện ma, truyện dâm tình có thể thu hút được nhiều đọc giả nhưng chưa chắc
gọi là thành công.
Viễn Đông: Ông nhận xét sao về tương lai
của dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại trong thời gian tới, đặc biệt là trước
nguy cơ ngày càng ít người đọc tiếng Việt?
Nhà văn Huy Phương: Đó quả là vấn đề ưu tư của những
người lớn tuổi. Người ta lo khoảng 30 năm nữa sẽ hết người đọc tiếng Việt. Hiện
nay, trường dạy Việt Ngữ nhìn thấy qui mô, nhưng so với dân số thì tỉ lệ không đáng
là bao vì không phải nhà nào cũng có con em đi học tiếng Việt. Có người hô hào
phải dịch tác phẩm ra tiếng Anh, nhưng không thể nào làm được vì người dịch
không hiểu ngôn ngữ Việt thì làm sao mà dịch sang tiếng Anh.
Tuy vậy, tôi vẫn thấy rằng số người Việt mới qua Mỹ và du
học sinh là khối người đọc khá lớn. Tôi cũng thấy có những người trẻ dù không
biết tiếng Việt nhưng vẫn giữ văn hóa Việt Nam. Tết rồi, đài phát thanh, TV
chiếu nhiều sinh hoạt ở các tiểu bang xa cho thấy lớp trẻ hát nhạc Việt, ăn
thức ăn Việt Nam. Đó là điều đáng quý. Tôi nghĩ rằng luôn có lớp người Việt Nam
mới xuất hiện. Chúng ta không nên bi quan.
Viễn Đông: Ông nhận xét gì về thị trường văn
học ở trong nước?
Nhà văn Huy Phương: Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư không
có câu nào chống cộng, chống đảng cộng sản, nhưng khi đọc xong, tôi thấy lòng
mình xót xa, rát bỏng về nỗi nhục mà người phụ nữ trong nước đang gánh chịu. Đàn
bà trong nước làm điếm ở cả những cánh đồng gặt lúa. Xưa thời Pháp thuộc có người
làm điếm nhưng ở một chỗ riêng biệt, cho một giới nào đó thôi chứ không “tràn đồng”
như hiện nay. Các cô gái điếm ngủ qua đêm với thợ gặt trên đồng, có người bán
thân cho nhân viên kiểm soát dịch gia cầm để mong họ cứu lấy đàn vịt của mình.
Tôi thích Nguyễn Ngọc Tư ở chỗ đã dùng cảm xúc của mình đánh động nỗi nhục nhằn
của phụ nữ nông thôn. Xã hội Việt trong nước nay cũng chạy theo tiền, mọi sinh
hoạt đều bị chi phối bởi thế lực đồng tiền. Một em theo gia đình qua đây khoảng
10 năm đi tìm những cuốn sách ở Mỹ để đọc, nói rằng đọc tác giả ở Mỹ khác xa
tác giả trong nước. Em nói, người hải ngoại viết ngay thẳng, có tấm lòng hơn.
Tôi nghĩ sự khác biệt này do xã hội tạo thành.
Viễn Đông: Ông coi trọng cảm xúc như thế nào
và làm gì để nuôi dưỡng cảm xúc?
Nhà văn Huy Phương: Cảm xúc đến một cách tự nhiên như
là bẩm sinh. Có sự khác nhau giữa nhà văn và người bình thường khác ở chỗ nhà văn
thấy và cảm xúc trước những sự kiện của đời thường trong khi người khác không
thấy, hoặc có thấy mà không để ý. Như mẩu chuyện “Người Mễ Bán Hoa” của tôi
viết nên từ sự việc nhìn thấy ở những ngã tư đường hay cảnh người Mễ đứng xúm
xít ở bên lề đường cạnh Home Depot chờ người đến gọi đi làm việc ngắn hạn. Có
người nhìn thấy nhưng không để ý, nhưng tôi thấy đàng sau họ là những người vợ,
người mẹ, là một đất nước nghèo khó, từ đó nghĩ về nỗi bất hạnh của họ so với
mình, xót xa cho thân phận con người. Để rồi mình cảm thấy mừng vì cộng đồng người
Việt mình không có ai bán hoa, không ai đứng ngoài đường rao bán cơ bắp. Người
mình thật thà, chân chất, có tấm lòng bao bọc nhau, hay sĩ diện: thà cực khổ
trong nhà bếp chứ không đứng đường tìm việc. Mình có tình thương, lòng nhân ái
sẽ thấy được những hình ảnh ở đàng sau. Tôi nhìn về những người lang thang, vô
gia cư, không hề khinh bỉ họ bằng thành kiến. Tôi nghĩ vì sao ta không dừng
lại, móc một đồng bạc ra cho họ thay vì dửng dưng lái xe đi? Số tiền đó không
nuôi sống họ được và đồng bạc đó cũng không làm ngân sách của mình bị thâm
thủng, vậy tại sao ta không làm để mua lại một niềm vui.
Truyện tôi diễn dịch từ một câu chuyện quan sát trong cuộc
sống đây đó mang lại nỗi xúc động ở người đọc, có thể cảm hóa được người khác.
Có người đọc tâm sự rằng họ đọc sách tôi đã thay đổi suy nghĩ, quan điểm sống
của mình.
Viễn Đông: Ông có dự định gì trong tương
lai, thưa ông?
Nhà văn Huy Phương: Nói dự định trong tương lai thì
to tát quá. Tôi nghĩ làm báo phải làm liều, cho tới khi nằm xuống thôi vì thời
gian không chờ đợi ai. Tôi nay đã 73 tuổi, làm gì được thì làm, gặp ai được thì
gặp, nói được điều gì thì nói, viết được thì cứ viết, in được thì cứ in. Tôi có
ông bạn mới chết vào dịp Giáng Sinh rồi mà tác phẩm còn trong máy quá nhiều. Hè này tôi sẽ ra mắt cuốn tạp ghi thứ 5 “Hạnh Phúc Xót Xa”.
Viễn Đông: Vâng,
kính chúc ông thành công lớn trong những ngày tới.