Bạn thích bài này?
Font-Size:
“Nhà văn phải thật với mình”
(VienDongDaily.Com - 04/03/2010)
Nhà văn Huy Phương tên thật là Lê Nghiêm Kính, sinh năm 1937 tại Huế. Ông dạy học tại Quảng Trị; Sĩ quan trừ bị Thủ Đức khóa 16; học khóa ...

Nha-van-Huy-Phuong.jpg


Nhà văn Huy Phương tại tòa soạn báo Viễn Đông – ảnh: Phụng Linh/Viễn Đông.


Phụng Linh/Viễn Đông (thực hiện)



Nhà văn Huy Phương tên thật là Lê Nghiêm Kính, sinh năm 1937 tại Huế. Ông dạy học tại Quảng Trị; Sĩ quan trừ bị Thủ Đức khóa 16; học khóa sĩ quan báo chí tại Hoa Kỳ; biên tập viên báo chí và phát thanh; phụ trách tòa soạn chiến sĩ Cộng Hòa và Tiền Phong - Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa; cựu trưởng phòng Tâm lý chiến và chính huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

Sau năm 1975, ông bị tù cộng sản 7 năm trước khi đến Hoa Kỳ vào năm 1990.


Nhiều nhận xét dành cho văn ông như sau:

“Đàng sau mỗi chữ, mỗi câu của ông dùng đều giấu một nụ cười, một giọt nước mắt. Và chính điều đó làm nên sự hấp dẫn trong các trang sách của Huy Phương”. (Nguyễn Đình Toàn).

“Ông có lối viết dễ yêu. Ông có phong cách của 1 nhà giáo. Ông viết trầm tĩnh, nhận xét tinh tế. Ông viết chừng mực, lối viết của một con người hiền lành và nhân hậu” (Bùi Bảo Trúc).

“Với những chữ nghĩa trầm lắng, nhân hậu nhưng không thiếu điều xót xa. Huy Phương từ tấm lòng mà viết nên ‘Nước Mỹ Lạnh Lùng’ và giờ đây là ‘Đi Lấy Chồng Xa’” (Phan Nhật Nam)...

 

Viễn Đông: Theo ông, một nhà văn muốn thành công trên đường văn nghiệp thì phải như thế nào, nhất là ở hải ngoại?
Nhà văn Huy Phương: Hiện nay nhà văn Việt Nam ở hải ngoại không nhiều và gọi là thành công thì rất khó. Tôi viết tạp ghi là đặt một vấn đề, thông qua một sự việc có thật ngoài đời để nói lên một tâm tình nhắn gửi đến người đọc. Theo tôi, văn chương không phù phiếm mà có một sứ mệnh, làm cho cuộc đời tốt hơn; không phải viết để châm chọc, để hạ người ta xuống.

Bản thân tôi là gốc nhà giáo, theo đạo Phật nên văn tôi thấm nhuần hai tinh thần đó cộng với đạo lý Á Đông. Có người nói sách tôi là “luân lý giáo khoa thư” vì đọc thấy trong mỗi chuyện viết ra một thông điệp chuyển đến cho người đọc, hàm ý xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Như tác phẩm “Đi Lấy Chồng Xa” chẳng hạn là câu chuyện mà mới đọc tưởng là tiểu thuyết. Sự thật, đó là tác phẩm nói về hoàn cảnh của gia đình tôi ngày xưa. Hồi ấy, gia đình tôi ở Huế, chị tôi lấy chồng ở Quảng Bình. Khi đất nước bị chia cắt, chị không trở về được. Đến khi về thì cha mẹ đã qua đời. Bây giờ xã hội Việt Nam có biết bao nhiêu người con gái đi lấy chồng xa không phải vì tình yêu mà vì hoàn cảnh đưa đẩy, vì đồng tiền. Tạp ghi của tôi là những câu chuyện ngăn ngắn, dễ đọc, làm xúc động lòng người. 

Có người nói rằng văn Huy Phương không chinh phục được trí tuệ nhưng chinh phục được con tim người đọc. Những gì được tôi viết ra là những lời tâm tình, cung cấp hiểu biết chứ không “dạy” người đọc chuyện này chuyện nọ, mà nói chuyện đời để làm người đọc cảm động. Trong phần kết luận 4 tạp ghi đã xuất bản của tôi thường đưa tới suy nghĩ làm cho người ta xúc động, khiến người ta ngậm ngùi, xót xa. Trong những vấn đề của con người được đặt ra có một phần nói về quá khứ, một phần về cộng đồng, quan trọng nhất là cái nhìn của người xa quê hương hướng về quê hương với nỗi bất bình. Đó không phải là những lời hô hào chống cộng, mà là nỗi xót xa về hoàn cảnh đất nước. Hạnh phúc của người Việt Nam chúng ta bây giờ không trọn vẹn. Chúng ta là người tị nạn hiện đang sống rất hạnh phúc, nhưng khác với người địa phương vì chúng ta là người ly hương, mồ mả cha ông nằm lại Việt Nam mà chúng ta không hy vọng được sớm trở về nên nặng nỗi xót xa. Chúng ta không giống nhiều cộng đồng khác như người Hoa ở đây chẳng hạn.


Viễn Đông: Nhà văn thường sống và viết nên nỗi cảm xúc của mình. Ông tạo cảm xúc và nuôi dưỡng cảm xúc của mình như thế nào?

Nhà văn Huy Phương: Một câu chuyện trên đài phát thanh, một mẩu chuyện được người bạn kể lại ở trong quán cà phê hay một mẩu tin đọc được trên báo đều tạo có thể nên cảm xúc và trở thành đề tài của tôi…  Chẳng hạn như trước đây đọc tin trên báo cho biết tại một ngôi làng ở Nga có một anh chàng làm đơn xin cưới một con bò cái làm vợ. Chuyện nghe tưởng bình thường nhưng với tôi thì đó là điều vô cùng xót xa, xót xa vì tất cả con gái trong làng đã bỏ về thành phố bán cà phê dẫn đến thân phận cô đơn đầy đau đớn của người thanh niên nọ. Câu chuyện có thật mỉa mai được đem ra để nói về thân phận của người con gái Việt Nam. Trong mỗi chuyện, tôi rất coi trọng đến đoạn kết. Trong tạp ghi Đi Lấy Chồng Xa, tôi viết rằng “chị như cánh lục bình rời xa con rạch cũ, lỡ trôi giạt ra tới biển Đông, không bao giờ trở lại nhánh sông xưa”, để bày tỏ nỗi băn khoăn về thân phận của kiếp người.


Viễn Đông: Có phải một điều thực tế hiện nay là thị trường văn học Việt Nam ở hải ngoại nói chung và tại Hoa Kỳ hiện nay không lớn vì không phải người Việt hải ngoại nào cũng đọc được tiếng Việt, nhất là giới trẻ. Ông có băn khoăn về điều đó không, thưa ông?

Nhà văn Huy Phương: Tôi đã viết khoảng 50 tạp ghi cho mỗi cuốn sách, có 3 cuốn đã in và tái bản nhiều lần, như cuốn “Ấm Lạnh Quê Người” đã được in lần thứ ba. Theo tôi, bây giờ cũng còn người đọc, đặc biệt là lớp người Việt lớn tuổi còn biết tiếng Việt, hoặc lớp 40 – 30 tuổi mới sang đây tìm đọc sách Việt ở Mỹ. Nhiều người nói sách ở đây viết khác với bên nhà, và tìm thấy trong đó một thái độ, cung cách mới mẻ của người viết. Không nên bi quan về người đọc.


Viễn Đông: Ông bắt đầu viết từ lúc nào, thưa ông?

Nhà văn Huy Phương: Những tác phẩm đã phát hành là Mắt Đêm Dài (thơ, 1960), Mây Trắng Đồn Xa (truyện, 1966), Nước Mỹ Lạnh Lùng (tạp ghi, 2003), Đi Lấy Chồng Xa (tạp ghi, 2006), Ấm Lạnh Quê Người (tạp ghi, 2007), Nhìn Xuống Cuộc Đời (tạp ghi, 2009), Những Người Muôn Năm Cũ (truyện, 2009), Chân Dung 1 H.O. Còn “Hạnh Phúc Xót Xa” hy vọng kịp ra mắt trong mùa hè này.


Viễn Đông: Theo ông, nhà văn Việt ở hải ngoại có thể sống được với nghề viết, nhất là các nhà văn được gọi là thành công?

Nhà văn Huy Phương: Thành công, tức là tác phẩm có nhiều người đọc không có nghĩa là người viết có thể sống được bằng nghề nhà văn. Hiện tại, người làm báo có thể sống được nhưng người viết văn thì không. Như tôi chẳng hạn, một – hai năm mới tập họp lại các câu chuyện tạp ghi của mình lại để in ra. Còn truyện ngắn thì họa hoằn vào dịp Tết mới được đăng. Có ai đi bán truyện ngắn của mình được đâu vì ngày thường không có báo nào trả tiền để đăng truyện ngắn. Nhiều người in sách và bỏ nằm trong garage cũng nhiều.

Từ ngày tôi đặt chân đến Mỹ năm 1990 thoạt đầu viết truyện, làm thơ nhưng đăng báo chỉ để vui chơi thôi. Năm 2002, tôi nghỉ hưu mới thu thập những mẩu chuyện đã đăng báo để xuất bản cuốn Nước Mỹ Lạnh Lùng. Tôi viết về những vấn đề của chính mình hồi mới qua Mỹ, những nỗi xót xa của người tha hương mới đến đây khi nhìn sự việc, nhìn nước Mỹ, nhìn những chuyện xảy ra trong cộng đồng… và dần dà thấy lòng mình khoan dung, hòa hợp được với người chung quanh. Từ 2002 trở đi, tôi viết đều tay hơn, tính ra đã in 4 cuốn sách, tất cả đều là tạp ghi, không kể một cuốn bút ký và truyện ngắn.


Viễn Đông: Vậy có thể nói, tạp ghi là những mẩu chuyện lòng của nhà văn?

Nhà văn Huy Phương: Tạp ghi là những câu chuyện kể những gì đang xảy ra trước mắt, trong cộng đồng và tại quê nhà. Trong quá khứ có những mối tình, những chuyện xảy ra ở Huế thời phong kiến, liên quan đến lăng tẩm thành trì, đến lòng người, phong tục, bản chất của người Huế xưa, trong đó có vài chuyện về người tù nói về bản thân tôi. Cũng có mẩu chuyện phản ảnh về đời người lính, chuyện của tôi trong thời kỳ ở Quân Đội từ năm 1963, tổng cộng 12 năm. Sau 1975, tôi đi tù cộng sản 7 năm cho nên có những mẩu chuyện của người tù. Mới qua Mỹ, tôi thấy lạc lõng nỗi sống xa quê hương phải làm việc tay chân, cực khổ thì có những mẩu chuyện nói lên điều đó.


Viễn Đông: Ông viết có dễ và nhanh không, thưa ông?

Nhà văn Huy Phương: Người viết văn hay làm thơ thì phải chờ cảm xúc đến. Còn với thể loại tạp ghi, một mục xuất hiện trên báo Người Việt ở Nam California vào mỗi Chủ nhật, tôi phải kiếm đề tài vào đầu thứ Hai và chậm lắm tối thứ Sáu phải giao bài. Viết báo không tùy hứng được. Khó chứ không dễ. Sắp tới lúc giao bài thì phải ngồi vào bàn. Hồi Tết rồi, đề tài của tôi là đồng tính, vấn đề đang được nhiều người quan tâm. Có thể nói rằng tôi viết ngay thẳng, không sợ mất lòng. Tạp ghi “Bác sĩ không là gì khác” có thể làm người khác mất lòng nhưng đó là vấn đề làm tôi băn khoăn cần phải được đặt ra. Theo tôi, người cha đăng báo chúc mừng con mình tốt nghiệp bác sĩ y khoa là trái phong tục, là khoe danh. Cách đây mấy tháng trên chương trình Tử Vi có một ông có con trai 3 tuổi rưỡi nhờ thầy coi sau này cháu học bác sĩ được không. Tôi băn khoăn về tình trạng cổ hủ của một số người Việt qua đây chưa thích nghi với xã hội mới, chưa thông cảm với giới trẻ mà cứ ép buộc con học làm bác sĩ.

Tôi lại càng không thể làm ngơ trước thảm cảnh đàn bà Việt trong nước đi ngoại quốc lấy chồng. Con gái Việt trong nước bây giờ làm điếm 10 phương. Xúc động trước thảm cảnh đó, tôi nói lên thân phận con người trong chế độ cộng sản - không chỉ là kẻ thù của nhân dân mà cả với tổ quốc Việt Nam.

Nhà văn phải thật với con người mình. Mình không tin thì không viết ra vì viết và nói ra không đủ năng lực thu phục người khác. Chữ nghĩa phải chân thật, không khoa trương, không lộng ngôn, không làm cho kêu. Nội dung phải là những điều xuất phát tự lòng mình. Viết gượng ép, không thật với lòng thì không bao giờ thành công. Tác phẩm có nhiều người đọc có thể gọi là thành công, chưa chắc thành công về tài chính, và ngược lại. Người viết truyện ma, truyện dâm tình có thể thu hút được nhiều đọc giả nhưng chưa chắc gọi là thành công.


Viễn Đông: Ông nhận xét sao về tương lai của dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại trong thời gian tới, đặc biệt là trước nguy cơ ngày càng ít người đọc tiếng Việt?

Nhà văn Huy Phương: Đó quả là vấn đề ưu tư của những người lớn tuổi. Người ta lo khoảng 30 năm nữa sẽ hết người đọc tiếng Việt. Hiện nay, trường dạy Việt Ngữ nhìn thấy qui mô, nhưng so với dân số thì tỉ lệ không đáng là bao vì không phải nhà nào cũng có con em đi học tiếng Việt. Có người hô hào phải dịch tác phẩm ra tiếng Anh, nhưng không thể nào làm được vì người dịch không hiểu ngôn ngữ Việt thì làm sao mà dịch sang tiếng Anh.

Tuy vậy, tôi vẫn thấy rằng số người Việt mới qua Mỹ và du học sinh là khối người đọc khá lớn. Tôi cũng thấy có những người trẻ dù không biết tiếng Việt nhưng vẫn giữ văn hóa Việt Nam. Tết rồi, đài phát thanh, TV chiếu nhiều sinh hoạt ở các tiểu bang xa cho thấy lớp trẻ hát nhạc Việt, ăn thức ăn Việt Nam. Đó là điều đáng quý. Tôi nghĩ rằng luôn có lớp người Việt Nam mới xuất hiện. Chúng ta không nên bi quan.


Viễn Đông: Ông nhận xét gì về thị trường văn học ở trong nước?

Nhà văn Huy Phương: Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư không có câu nào chống cộng, chống đảng cộng sản, nhưng khi đọc xong, tôi thấy lòng mình xót xa, rát bỏng về nỗi nhục mà người phụ nữ trong nước đang gánh chịu. Đàn bà trong nước làm điếm ở cả những cánh đồng gặt lúa. Xưa thời Pháp thuộc có người làm điếm nhưng ở một chỗ riêng biệt, cho một giới nào đó thôi chứ không “tràn đồng” như hiện nay. Các cô gái điếm ngủ qua đêm với thợ gặt trên đồng, có người bán thân cho nhân viên kiểm soát dịch gia cầm để mong họ cứu lấy đàn vịt của mình. Tôi thích Nguyễn Ngọc Tư ở chỗ đã dùng cảm xúc của mình đánh động nỗi nhục nhằn của phụ nữ nông thôn. Xã hội Việt trong nước nay cũng chạy theo tiền, mọi sinh hoạt đều bị chi phối bởi thế lực đồng tiền. Một em theo gia đình qua đây khoảng 10 năm đi tìm những cuốn sách ở Mỹ để đọc, nói rằng đọc tác giả ở Mỹ khác xa tác giả trong nước. Em nói, người hải ngoại viết ngay thẳng, có tấm lòng hơn. Tôi nghĩ sự khác biệt này do xã hội tạo thành.


Viễn Đông: Ông coi trọng cảm xúc như thế nào và làm gì để nuôi dưỡng cảm xúc?

Nhà văn Huy Phương: Cảm xúc đến một cách tự nhiên như là bẩm sinh. Có sự khác nhau giữa nhà văn và người bình thường khác ở chỗ nhà văn thấy và cảm xúc trước những sự kiện của đời thường trong khi người khác không thấy, hoặc có thấy mà không để ý. Như mẩu chuyện “Người Mễ Bán Hoa” của tôi viết nên từ sự việc nhìn thấy ở những ngã tư đường hay cảnh người Mễ đứng xúm xít ở bên lề đường cạnh Home Depot chờ người đến gọi đi làm việc ngắn hạn. Có người nhìn thấy nhưng không để ý, nhưng tôi thấy đàng sau họ là những người vợ, người mẹ, là một đất nước nghèo khó, từ đó nghĩ về nỗi bất hạnh của họ so với mình, xót xa cho thân phận con người. Để rồi mình cảm thấy mừng vì cộng đồng người Việt mình không có ai bán hoa, không ai đứng ngoài đường rao bán cơ bắp. Người mình thật thà, chân chất, có tấm lòng bao bọc nhau, hay sĩ diện: thà cực khổ trong nhà bếp chứ không đứng đường tìm việc. Mình có tình thương, lòng nhân ái sẽ thấy được những hình ảnh ở đàng sau. Tôi nhìn về những người lang thang, vô gia cư, không hề khinh bỉ họ bằng thành kiến. Tôi nghĩ vì sao ta không dừng lại, móc một đồng bạc ra cho họ thay vì dửng dưng lái xe đi? Số tiền đó không nuôi sống họ được và đồng bạc đó cũng không làm ngân sách của mình bị thâm thủng, vậy tại sao ta không làm để mua lại một niềm vui.

Truyện tôi diễn dịch từ một câu chuyện quan sát trong cuộc sống đây đó mang lại nỗi xúc động ở người đọc, có thể cảm hóa được người khác. Có người đọc tâm sự rằng họ đọc sách tôi đã thay đổi suy nghĩ, quan điểm sống của mình.


Viễn Đông: Ông có dự định gì trong tương lai, thưa ông?

Nhà văn Huy Phương: Nói dự định trong tương lai thì to tát quá. Tôi nghĩ làm báo phải làm liều, cho tới khi nằm xuống thôi vì thời gian không chờ đợi ai. Tôi nay đã 73 tuổi, làm gì được thì làm, gặp ai được thì gặp, nói được điều gì thì nói, viết được thì cứ viết, in được thì cứ in. Tôi có ông bạn mới chết vào dịp Giáng Sinh rồi mà tác phẩm còn trong máy quá nhiều. Hè này tôi sẽ ra mắt cuốn tạp ghi thứ 5 “Hạnh Phúc Xót Xa”.


Viễn Đông: Vâng, kính chúc ông thành công lớn trong những ngày tới.


Nguồn: http://www.viendongdaily.com/nha-van-phai-that-voi-minh-bMH0ASKf.html
Bạn thích bài này?
Bookmark and Share

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo
Giới thiệu doanh nghiệp

Lời Thề Định Mệnh sắp ra mắt

Ông cũng là một đại diện tiêu biểu cho nền văn học miền Nam. Người đọc có thể tìm thấy cả một xã hội và văn hóa miền Nam từ những năm 1920 đến 1945 trong toàn bộ các tác phẩm của ông.

Đêm nhạc ca khúc Nguyễn Đình Toàn

Ở những bản tình ca của Nguyễn Đình Toàn, ca từ cùng giai điệu đã làm nên "chất tình" quen thuộc mộc mạc và giản dị, nhưng cũng đủ để cảm nhận nơi tình yêu đầy đủ những cung bậc cảm xúc

Thổn thức cùng tiếng kèn của Hoài Phương trong CD The Sound of Love

Những ca khúc được chọn trong CD này đều được Hoài Phương thực hiện theo yêu cầu của khán giả.

Poster Thị Kính đã treo lên

Có gì quan trọng về poster này? Để hiểu rõ hơn về điều này, cần nhắc sơ qua vài con số trong lịch sử opera trước.

Giới thiệu đêm nhạc Quê Hương, Lính và Tình Yêu

Là thời gian những người lính sau khi buộc phải buông súng, rời khỏi cuộc chiến tàn khốc, để bước vào một cuộc chiến khác cũng khốc liệt không kém trong các trại tù của kẻ chiến thắng.

Chiều ra mắt sách nhạc Phạm Đình Chương và Toàn Bộ Sáng Tác

Trong tổng cộng 50 ca khúc trong toàn bộ sáng tác của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, ông Phạm Thành đã giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu trong chương trình phụ diễn văn nghệ, được chia thành 3 giai đoạn sáng tác âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

8 điều hay về phim Instant Noodle của đạo diễn Nguyễn Trọng Khoa

Không như một số phim khác, người ta lồng tiếng thế nào ấy, và dùng từ Hán-Việt nhiều đến mức nhắm mắt lại là nghe y như một bộ phim Hongkong hoặc phim Tàu.

Nhà văn Nguyễn Ninh Thuận với Nỗi Lòng & Khát Vọng

Nguyễn Ninh Thuận gửi tất cả về giúp các Thương Phế Binh Quảng Trị và các cựu giáo chức Sư Phạm Qui Nhơn đang trong hoàn cảnh túng thiếu. Đây quả là tấm lòng hiếm quý của một nhà văn.

Nhà soạn nhạc P.Q. Phan trước khi mở màn

Nhiều khi người ta diễn giải ý tưởng về tác phẩm theo cách mà tôi không hình dung ra trong đầu, và tôi có thể thích hoặc không thích nó. Nhưng khi phần sáng tác đã hoàn chỉnh, người ta có quyền diễn giải tác phẩm theo ý mình, đó là chuyện tự nhiên và tôi phải chấp nhận chuyện này.

Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế: Còn Thêm Một Tuần Hào Hứng

Mà chuyện về các cuốn phim Việt Nam được trình chiếu tại Đại Hội thì thật hấp dẫn, nói hoài không hết.
Quảng cáo