Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Trong một góc Đài Tử Sĩ!
Điều đáng tiếc là trước 75 tôi đã không có dịp đến thăm Nghĩa Trang Quân Đội, một nghĩa trang tầm cỡ lớn được phác họa và tạo dựng bởi những bàn tay của một tập thể kỹ sư, kiến trúc sư, họa sĩ, điêu khắc gia hàng đầu của VNCH thời bấy giờ. Theo nhiều hình ảnh tài liệu để lại, cho thấy đây là một nghĩa trang quốc gia, nơi an nghỉ của những anh hùng tử sĩ đã hy sinh vì tổ quốc, tương lai đẹp không thua gì Arlington Cemetery của Hoa Kỳ. Cho đến tháng Tư 1975 đã có 16.000 chiến sĩ đền nợ nước tụ họp nơi này, 8.000 mộ đã được xây… Từ đó tất cả chìm vào lãng quên – Sự thực là thân nhân không có quyền hoặc sợ không dám thăm viếng. Nghĩa trang trở thành bãi rừng hoang phế, một vùng cấm địa thuộc quyền quân đội nhân dân cai quản.

Đài Tử Sĩ úa tàn
Gần ba mươi bảy năm trôi qua như một giấc mộng, nhiều người vẫn chưa hết bàng hoàng khi nhớ lại ngày “có triệu người vui, có triệu người buồn…” (1), không những buồn mà còn đau đớn cả hồn lẫn xác như mắc phải chứng bệnh nan y dai dẳng suốt mấy thập niên. Người đời thường nói “Thời gian là liều thuốc hàn gắn mọi vết thương”, có đúng vậy chăng? Một bài viết trên báo VietNamnet (19-04-2010):
“Ba mươi tháng Tư năm 2010, đất nước kỷ niệm 35 năm thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối. Hơn ba chục năm ấy là cả một chặng đường đầy khó nhọc để xây dựng đất nước từ những ngổn ngang, mất mát, đau thương.
Trong 35 năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực, đưa ra nhiều chính sách nhằm hoà hợp dân tộc, không phân biệt người trong và ngoài nước…”. Đấy là nói, còn làm? Tôi lại nhớ câu chuyện với cụ bà Trương Thị Thú (2) “Nói thì có làm thì khôông”. Điều này người dân trong nước thuộc nằm lòng, bàn thêm vô ích. Ngay trong bài báo của VietNamnet kêu gọi “hòa giải hòa hợp: “…để tạo thành một khối sức mạnh dân tộc đồng thuận trong ngoài để đưa đất nước phát triển vẫn còn cần lắm lòng vị tha, bỏ qua quá khứ và định kiến vì một tình yêu nước thương nòi giữa những người Việt chung dòng máu Lạc Hồng” vẫn không dấu được cái nhìn đố kỵ đâm thọc với lời lẽ xuyên tạc mị dân rẻ tiền khi viết: “Pho tượng mang tên là 'tiếc thương', với ngụ ý là chỉ có người lính, mới biết thương cho thân phận của chính mình và các chiến hữu đồng đội, giữa một cái thế giới bạc đen vong ân bạc nghĩa của người miền nam lúc đó” (3). Tưởng đâu là tình cảm gà chung một mẹ người chung giống nòi, thôi thì bỏ qua mọi chuyện để cùng chung lo việc nước. Thế nhưng, chưa ngồi xuống anh đã xỏ xiên mạt sát khinh chê thiên hạ, thử hỏi làm sao nói chuyện với hạng người như vậy. Nếu tôi là giới chức có thẩm quyền, sẽ trị tội ngay tay viết nịnh bợ này (không khéo do bọn xấu cài), cố tình gây chia rẽ người giữa hai miền, làm tổn thương tình tự quê hương.

Tam cấp lên Đài Tử Sĩ
Trong lần về An Dương (Thuận An Huế) tìm lăng mộ của tập thể TQLC bị giết vì không ra kịp tàu để di tản, người chết đã 35 năm, xương phơi trên cát, dân gom về chôn trong vườn mỗi nhà năm ba bộ, nay xin hợp táng một nơi tươm tất nhưng gặp muôn vàn khó khăn, phải năm lần bảy lượt “trầy da tróc vảy” mới xong. Mộ không tên, phải ghi mộ cô hồn (một bác già tại đình An Dương tâm sự). Điều này tôi không lạ, vì mấy trăm năm trước mẹ con hoàng hậu Lê Ngọc Hân chết đã 38 năm còn bị vua Thiệu Trị đào mả đem hài cốt đổ xuống sông Hồng (4). Dân tộc ta vốn “hiếu hòa, trọng lễ nghĩa, văn minh thân thiện, nghĩa tử nghĩa tận” và hàng triệu khẩu hiệu ca ngợi con Hồng cháu Lạc, nên tôi vẫn tin rồi ra không thể lãnh đạm, thâm thù mãi thế này.

Bàn thờ trong Đài Tử Sĩ?
Hôm nay từ Sài Gòn tôi đi tìm Nghĩa Trang Quân Đội, biết là không xa chừng 30km thôi, nhưng đường đi thì không nắm vững. Ngày trước chạy ngoài xa lộ Biên Hòa (nay xa lộ Hà Nội!) nhìn vào thấy tượng người lính chiến trên đài cao, ngày nay chẳng biết “Thương Tiếc” về đâu (5). Địa hình địa vật biến dạng, nhà cửa cây cối mọc đầy, hơn nữa ai còn cho giữ những dấu tích của “ngụy quyền tay sai bán nước”?
Hỏi xã Bình An huyện Dĩ An, tôi chạy mãi lên đến cầu Đồng Nai. Một ông lão cho biết, phải chui qua cầu quay ngược lại. Đúng vậy, chỉ mấy cây số vào xã Bình An, hỏi dân quanh vùng ai cũng biết, người ta chỉ cho tôi ngọn đồi phủ cây cao trước mặt. Con đường chạy quanh đồi như đường vào làng, cây cối um tùm, nhà cửa kho bãi, tường vách nhăng nhít chẳng còn chút gì là dấu tích một nghĩa trang quốc gia nổi tiếng tráng lệ một thời. Có bốn lối đi lên đồi theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc. Mỗi lối có nhiều tầng tam cấp, mỗi tầng mươi lăm bậc, rộng gần mười mét. Đứng dưới đường nhìn lên, chỉ thấy tam cấp phủ rác lá dơ bẩn dưới tàng cây rậm rạp. Ngay chân tam cấp nơi mặt đường là chỗ đổ rác, đốt rác. Nếu bảo đi thăm Đài Tử Sĩ của nghĩa trang mà như vầy, ai không xót xa thương cảm.
Trời nắng chói chang sao cảnh nhuốm màu ảm đạm. Vắng tanh và yên tĩnh, không người đi, không gió thổi. Quan sát một lúc, tôi chậm rãi bước lên Đền, vừa hình dung lại ngày xưa nơi đây hàng nghìn anh hồn tử sĩ đã được đồng đội, đồng bào rước lên đài làm lễ truy điệu, trong tiếng kèn đồng ai oán, qua hàng quân bồng súng chào trang trọng. Hình ảnh lễ tang rực rỡ hào hùng trong bầu không khí ngập tràn màu cờ sắc áo. Người người thương tiếc thắp nén tâm hương, nói lời tiễn biệt trước khi đưa anh ra nơi an nghỉ cuối cùng. Lên đến tầng cấp cuối tôi mới thấy ngôi nhà gạch bỏ hoang, tường vách mái ngói rách nát, cố lắm mới nhận ra Đài Tử Sĩ. Theo tài liệu cũ thì sau 75 bộ đội trấn đóng đã biến Đài Tử Sĩ (ĐTS) thành phòng ở, vách xây quanh, hai cửa ra vào theo hướng chính Nam Bắc, hai vách kia mỗi vách hai cửa sổ. Hiện trạng là căn phòng bỏ hoang rác rến dơ bẩn, giữa phòng có chiếc bàn trải tấm nhựa hoa xanh, lâu ngày bụi phủ dày một lớp trên mặt tưởng như mặt bàn bằng gỗ. Thêm vào đó các thứ bày biện lộn xộn: Bát nhang sành, bình hoa khô tự bao giờ, mấy chén nước cúng đen đúa… không thể nghĩ đây là bàn thờ dù là thờ kẻ chết bờ chết bụi. Lúc đưa máy chụp ảnh tôi mới nhận ra một chi tiết mà thoạt tiên chẳng hiểu gì: Bát nhang, ngoài chân nhang còn chân thuốc lá, chưa hề thấy bát nhang cắm thuốc lá bao giờ. Thì ra tình đồng đội nơi chiến hào chỉ có điếu thuốc chia sẻ cho nhau. Đã mấy mươi năm bạn nằm dưới mồ sâu hoang lạnh, gửi bạn một điếu cho đỡ ấm lòng. Do vậy mà anh em còn sống sót sau cuộc chiến, mỗi lần về thăm nghĩa trang, đốt cho bạn một điếu thuốc. Khói thuốc thay khói nhang đó là tất cả tình cảm huynh đệ chi binh. Nghĩ đến đấy tôi thật sự cảm động rơi nước mắt. Ấy vậy mà nỡ nào không cho đặt một bàn thờ tươm tất sạch sẽ hơn, thù hằn gì với người chết, ganh tỵ gì với hương linh người từng ôm súng bảo vệ quê hương. Nhớ chuyện nội chiến Bắc Nam của nước Mỹ mà buồn cho nước mình. Chung quanh chiếc bàn lớn còn một vài trang thờ nhỏ đặt ở góc phòng, cũng kiểu bỏ hoang không ai dọn dẹp, không phải là nơi nhang khói cho oan hồn tử sĩ. Không hẳn xã hội hôm nay thiếu một tấm lòng, chắc chắn có nhiều người muốn làm công quả việc hương khói nơi này, nhưng chuyện từ bi bác ái thời nay phải phép tắc khai báo khó khăn, khiến kẻ có lòng cũng phải làm ngơ.

Đường ngang qua Đài Tử Sĩ
Đài Tử Sĩ chẳng còn gì ngoài bộ sườn và mấy dãy cột hàng hiên chung quanh, toàn bộ công trình tô điểm trang trí hoa văn họa tiết đều bị phá bỏ. Nền nhà có một khoảnh bị cạy lên nay vá lại nham nhở, chẳng hiểu lý do gì.
Khuôn viên ĐTS vẫn còn bờ thành chung quanh, cổng tam quan hư hại nhiều, cây trang trí hai bên lối lên Đền không còn nữa, thay vào đó cỏ mọc và rác phủ đầy. Một điều hoàn toàn mới là các loại cây sao, cây muồng, và cây rừng hoang họ lá dầu được trồng đã mấy chục năm, nay lên cao như rừng già.
Đứng trên ĐTS nhìn ra chung quanh không còn thấy cảnh nghĩa trang ngày trước, không thấy Nghĩa Dũng Đài, không thấy các khu mộ của 16 nghìn quân nhân đã hy sinh. Đường sá, nhà cửa, kho bãi đã cắt nát diện tích nghĩa trang. Khi một chứng tích không được thừa nhận thì với thời gian tất cả sẽ bị xóa nhòa. Ghi nhận bấy nhiêu, tôi đi lần xuống, hỏi chị chủ nhà bên kia đường, nơi có mộ của binh lính miền Nam ngày trước, chị bảo chạy vòng ra con đường phía sau sẽ thấy… Tôi đi tìm.
(Còn tiếp - Trích QHQOK tập 13)
Tháng 3 – 2012
(1) Lời ông Võ Văn Kiệt.
(2) Làng gốm Phước Tích.
(3) Trích đúng nguyên văn, xin hiểu ý chứ câu văn chấm phẩy kiểu học sinh mới tập làm văn, rất khó chịu.
(4) Đón đọc đền Ghềnh và đền thờ Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân (làng Nành).
(5) Thương Tiếc tượng do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu. Rất nhiều huyền thoại về pho tượng sẽ ghi lại những kỳ sau. Có tin cho hay tượng đã nấu lấy đồng.
Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 12, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách nguyên bộ 12 tập (discount) xin liên lạc:
Tòa soạn báo Viễn Đông, 14891 Moran Street, Westminster, CA 92683. Điện thoại: 714-379-2851.
Những sách khác liên lạc tác giả qua P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260. Website: www.ltcn.net, email: trancongnhung@yahoo.com
Viendongdaily.com và tác giả giữ bản quyền bài và hinh trên trang này. Xin đừng trích đăng dưới bất cứ hình thức nào.