Bạn thích bài này?
Font-Size:
Mổ xẻ một cơn bệnh: tương quan giữa tâm trí và thân xác (Kỳ 4)
(VienDongDaily.Com - 07/10/2016)
Tôi đã hoàn toàn bị thuyết phục vào cái lúc mà bệnh của tôi nặng nhất, rằng lượng thuốc ascorbic acid truyền vào tĩnh mạch có thể hiệu quả - và đúng là nó đã có hiệu quả. Rất có thể là cách điều trị này - giống như mọi thứ khác tôi đã làm - là một minh chứng cho hiệu ứng của thuốc giả.
Bài dịch cuốn sách 'Mổ Xẻ Một Cơn Bệnh' của Norman Cousins

Lời mở đầu: Norman Cousins là giảng viên lâu năm tại Trường Y Khoa Đại Học UCLA, và biên tập viên tham khảo của tạp chí Man & Medicine, xuất bản tại Trường Y Khoa Đại Học Columbia. Đời chuyên nghiệp của Norman Cousins hầu như gắn liền với tạp chí Saturday Review. Ông trở thành một biên tập viên ở đây vào năm 1940, một vị trí mà ông giữ hơn 30 năm. Ông ​​là tác giả của mười một cuốn sách đã xuất bản.
“Mổ Xẻ Một Cơn Bệnh” là câu chuyện của Norman Cousins và việc chiến đấu thành công chống lại một căn bệnh trầm trọng. Đây là câu chuyện về sự hợp tác giữa bác sĩ và bệnh nhân trong việc lật ngược số mệnh. Tài năng của Bác Sĩ nằm trong việc giúp đỡ các bệnh nhân sử dụng quyền năng của mình: tiếng cười, lòng dũng cảm, sự kiên cường. Tài năng của bệnh nhân là huy động nguồn lực chữa bệnh tự nhiên của cơ thể của mình: thêm sức cho những vũ khí mạnh mẽ là những cảm xúc tích cực trong cuộc chiến chống lại bệnh tật. Câu chuyện của Norman Cousins đã được kể lại trong các tạp chí y khoa cũng như các tạp chí thông thường trên khắp thế giới, đưa ra một ví dụ nổi bật về phản ứng của con người trước một thách thức. Nó cho thấy tâm trí và thân xác có thể làm việc với nhau để vượt qua bệnh tật.
Norman Cousins qua đời ngày 30 tháng 11, 1990.

 

Đôi mắt của bác sĩ Hitzig trợn to khi tôi đề cập đến 25 gram. Con số này vượt xa bất kỳ liều lượng nào từng được ghi lại. Ông cho biết ông phải báo động về ảnh hưởng có thể không chỉ trên thận mà còn trên các tĩnh mạch ở cánh tay. Hơn nữa, ông nói rằng ông biết không có dữ liệu nào hỗ trợ cho giả thiết cơ thể có thể giải quyết 25 gram trong thời gian bốn giờ, khác hơn là bằng cách bài tiết nhanh chóng qua nước tiểu.

Như trước đây, tuy nhiên, dường như với tôi, chúng tôi đã tố lớn: mất đi một số tĩnh mạch không quan trọng khi đang cần thiết phải chống lại bất cứ cái gì đang ăn mòn các mô liên kết của tôi.

Để biết liệu mình có đi đúng hướng không, chúng tôi đã thử nghiệm độ lắng hồng cầu trước lần truyền tĩnh mạch đầu tiên 10 gram ascorbic acid. Bốn giờ sau đó, chúng tôi đã thử nghiệm độ lắng lần nữa. Mức lắng đã tụt xuống đúng chín điểm. Hiếm khi tôi hứng khởi như vậy. Ascorbic acid đã làm được việc. Tiếng cười cũng vậy. Sự kết hợp của hai thứ này đã làm giảm rất nhiều thứ chất độc nào đó đã tấn công các mô liên kết của tôi. Cơn sốt đã hạ xuống, và mạch của tôi không còn chạy nhanh nữa.

Chúng tôi tăng liều lên. Vào ngày thứ hai, chúng tôi đã truyền 12,5 gram ascorbic acid; vào ngày thứ ba, 15 gram; và như vậy cho đến cuối tuần, khi chúng tôi đến mức 25 gram. Trong khi đó, các trận cười hằng ngày vẫn tiếp tục đầy đủ. Tôi đã hoàn toàn ngưng uống thuốc và thuốc ngủ. Thật phước đức có được giấc ngủ tự nhiên không đau nhức, ngày càng kéo dài.

Vào cuối ngày thứ tám tôi đã có thể di chuyển ngón tay mà không bị đau. Đến thời điểm này, độ lắng ở mức 80s và giảm nhanh. Tôi không dám chắc, nhưng dường như các cục giống như sỏi trên cổ và lưng bàn tay của tôi đã bắt đầu co lại. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi sẽ hoàn toàn hồi phục. Tôi có thể hoạt động, và cảm giác của tôi giờ không thể nào đẹp hơn được.

Tôi không nên nói như là tất cả những bệnh tật của tôi đã biến mất qua đêm. Trong nhiều tháng, tôi không thể giơ cánh tay của tôi lên đủ xa để lấy một cuốn sách trên kệ cao. Ngón tay của tôi không đủ nhanh nhẹn để làm những gì tôi muốn trên bàn phím đàn organ. Cổ tôi chỉ quay được một cách hạn chế. Đầu gối của tôi loạng choạng, và có khi tôi phải mang nạng kim loại.

Mặc dù vậy, tôi đã phục hồi đủ để trở lại công việc của mình ở tờ tạp chí Saturday Review toàn thời gian một lần nữa, và đây đủ là phép lạ cho tôi.

Vậy sự phục hồi có hoàn toàn không? Mỗi năm qua, tôi di chuyển được nhiều hơn. Tôi đã hết đau, ngoại trừ một bên vai và đầu gối của tôi, mặc dù tôi đã có thể bỏ mang nạng kim loại. Tôi không còn cảm thấy cái rứt mạnh ở cổ tay khi tôi đập trái banh quần vợt hay banh golf như trước kia trong một thời gian dài. Tôi có thể cưỡi ngựa và cầm máy ảnh với một bàn tay ổn định. Và tôi đã trở lại tham vọng chơi các bài Toccata và Fugue in D Minor, mặc dù tôi tiến chậm hơn và khó khăn hơn so với tôi đã hy vọng. Cổ tôi lại có thể quay đầy đủ một lần nữa, bất chấp những tuyên bố của các chuyên gia gần đây nhất là năm 1971 rằng tình trạng đã thoái hóa và rằng tôi sẽ phải chịu bớt đi một phần tư vòng.

Bảy năm sau khi tôi phát bệnh, người ta mới có được sự xác nhận khoa học về nguy hiểm của việc sử dụng aspirin để điều trị các bệnh collagen. Trong số báo ngày 08 tháng 5 năm 1971, Lancet công bố một nghiên cứu của bác sĩ. M. A. Sahud và R. J. Cohen cho thấy aspirin có thể đối kháng với sự duy trì vitamin C trong cơ thể. Các tác giả cho rằng những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nên uống thêm vitamin C, vì họ thường có mức vitamin C trong máu khá thấp. Vì thế không có gì ngạc nhiên là tôi đã có thể hấp thụ một lượng lớn ascorbic acid như vậy mà không bị biến chứng lên thận hoặc các biến chứng khác.

Những kết luận tôi rút ra từ toàn bộ kinh nghiệm?
Đầu tiên là ý chí sống không phải là một lý thuyết trừu tượng, nhưng là một thực tế sinh lý với đặc tính có thể chữa bệnh được. Thứ hai là tôi đã vô cùng may mắn có được bác sĩ là một người biết rằng công việc lớn nhất của ông là khuyến khích tích cực ý chí muốn sống của bệnh nhân và huy động tất cả các nguồn tài nguyên tự nhiên của cơ thể và tâm trí để chống lại bệnh tật. Bác sĩ Hitzig đã sẵn sàng bỏ qua một bên số lượng khổng lồ và thường nguy hiểm của các loại thuốc mạnh có sẵn cho các bác sĩ thời nay một khi ông đã bị thuyết phục rằng bệnh nhân của ông có thể cung cấp một cái gì đó tốt hơn. Ông cũng đã đủ khôn ngoan để biết rằng nghệ thuật chữa bệnh vẫn là một nghề tiên phong. Và, mặc dù tôi không thể chắc chắn về điểm này, tôi có linh cảm ông tin rằng sự tham gia tích cực của tôi là một nhân tố chính trong phục hồi của mình.

Mọi người thường hỏi tôi nghĩ gì khi các chuyên gia nói rằng bệnh của tôi đã nặng và không thể chữa được. Câu trả lời rất đơn giản. Vì tôi không chấp nhận phán quyết ấy, tôi đã không bị mắc kẹt trong chu kỳ sợ hãi, trầm cảm, hoảng loạn thường xuyên đi kèm với một căn bệnh được cho là không thể chữa được. Tôi phải nói rõ để không có vẻ là tôi đã không chú trọng đến sự nghiêm trọng của vấn đề hoặc là tôi lúc nào cũng vui như mở hội khi toàn cơ thể không có khả năng di chuyển là tất cả các bằng chứng tôi cần để biết các chuyên gia đang đối phó với một mối quan tâm thực sự. Nhưng trong sâu thẳm, tôi biết tôi đã có một cơ hội tốt và thích thú với ý tưởng đánh bại số mạng.

Adam Smith, trong cuốn sách của ông, Quyền Lực của Tâm, cho biết ông đã thảo luận về sự hồi phục của tôi với một số bạn bè bác sĩ của mình, yêu cầu họ giải thích lý do tại sao sự kết hợp của tiếng cười và ascorbic acid làm việc tốt thế. Câu trả lời ông nhận được là không phải tiếng cười cũng không phải ascorbic acid đã có hiệu quả mà có lẽ tôi sẽ hồi phục dù không làm gì cả. Có thể là đúng như vậy, nhưng đó không phải là ý kiến ​​của các chuyên gia vào lúc ấy.

Hai hoặc ba bác sĩ, nói về cuốn sách của Adam Smith, đã nhận xét rằng tôi có lẽ là người được lợi lớn từ việc tự bơm vào người một thứ thuốc giả (placebo). Giả thuyết ấy không làm tôi bực mình chút nào. Nhiều cái tên đáng nể trong lịch sử y học, như Paracelsus, Holmes, và Osler, đã gợi ý rằng lịch sử của thuốc phần lớn là lịch sử của các hiệu ứng của thuốc giả hơn là của các loại thuốc có giá trị và có liên quan. Các phương thức chữa bệnh như lấy máu (trong một năm, năm 1827, Pháp đã nhập cảng 33 triệu con đỉa sau khi nguồn cung cấp trong nước đã cạn kiệt); rửa ruột bằng thuốc nôn mửa; chạm vào sừng kỳ lân, đá ngưu hoàng, củ sâm, hay bột xác ướp - tất cả các phương pháp điều trị như vậy không nghi ngờ gì đã được coi là có hiệu quả rõ ràng với các phê chuẩn thực nghiệm bởi các bác sĩ vào thời điểm đó. Nhưng y học ngày nay công nhận rằng bất cứ hiệu quả nào mà các phương pháp đó có được - và các hồ sơ cho thấy kết quả, đáng ngạc nhiên, thường phù hợp với kỳ vọng - có lẽ là liên quan tới sức mạnh của thuốc giả.

Cho đến tương đối gần đây, tài liệu về hiện tượng thuốc giả khá thưa thớt. Nhưng hai thập niên qua đã chứng kiến một sự quan tâm rõ rệt về chủ đề này.Thật vậy, ba nhà nghiên cứu y khoa tại Đại học California, Los Angeles, đã tổng hợp thành 1 cuốn sách thư mục của giả dược. . (J. Turner, R. Gallimore, C. Fox Placebo: An Annotated Bibliography) . Trong số các nhà nghiên cứu y khoa nổi bật tham gia vào nghiên cứu này là Arthur K. Shapiro, Stewart Wolf, Henry K. Beecher, và Louis Lasagna. Với kinh nghiệm của riêng tôi, tôi đã bị cuốn hút bởi một báo cáo trích dẫn một nghiên cứu của Tiến sĩ Thomas C.
Chalmers, Trung tâm Y tế Mount Sinai ở New York, so sánh hai nhóm đã được sử dụng để kiểm tra giả thuyết rằng ascorbic acid có thể phòng ngừa cảm lạnh. “Nhóm được cho uống thuốc giả nhưng nghĩ rằng họ đã được uống ascorbic acid,” bác sĩ Chalmers nói, “ít bị cảm lạnh hơn so với nhóm uống ascorbic acid nhưng nghĩ rằng họ đã uống thuốc giả.”

Tôi đã hoàn toàn bị thuyết phục vào cái lúc mà bệnh của tôi nặng nhất, rằng lượng thuốc ascorbic acid truyền vào tĩnh mạch có thể hiệu quả - và đúng là nó đã có hiệu quả. Rất có thể là cách điều trị này - giống như mọi thứ khác tôi đã làm - là một minh chứng cho hiệu ứng của thuốc giả.

Tại thời điểm này, tất nhiên, chúng ta đang mở một cánh cửa rất rộng, có lẽ ngay cả cái hộp của Pandora. Các chuyện "chữa bệnh bằng phép lạ" có rất nhiều trong tài liệu của tất cả các tôn giáo lớn đều nói tới một điều gì đó về khả năng của bệnh nhân, được thúc đẩy hoặc kích động,đã tham gia tích cực vào sự đảo ngược của bệnh và khuyết tật. Dĩ nhiên là rất dễ dàng, tất nhiên, để nâng cao những điều có thể và những suy diễn lên thành một trạng thái độc quyền - trong trường hợp này, toàn bộ dinh thự của y học hiện đại sẽ giảm giá xuống thành nhỏ nhoi hơn là túp lều của một bác sĩ phù thủy châu Phi. Nhưng ít nhất chúng ta có thể suy tưởng về câu nói của William Halse Rivers, trích dẫn bởi Shapiro, rằng “những tính năng nổi bật của y học ngày nay là những yếu tố thuộc về tinh thần không còn được phép phô diễn một cách vô tình, nhưng tự nó đang trở thành những đề tài nghiên cứu, vì vậy mà thời đại hiện nay phải phục vụ sự phát triển của một hệ thống chữa bệnh bằng tâm lý hợp lý. ''

Những gì chúng ta đang nói, căn bản là hóa học trong ý chí để sống. Tại Bucharest năm 1972, tôi đến thăm phòng khám của Ana Asian, được cho là một trong những bác sĩ nội tiết hàng đầu của Romania. Bà nói về niềm tin của mình rằng có một kết nối trực tiếp giữa một ý chí mạnh mẽ để sống và sự cân bằng hóa học trong não. Bà tin rằng sự sáng tạo - một khía cạnh của ý chí để sống - sản xuất những thúc đẩy trên não để kích thích tuyến yên (pituitary glands), khơi động các hiệu ứng trên tuyến tùng (pineal gland) và toàn bộ hệ thống nội tiết. Có thể rằng thuốc giả có một vai trò quan trọng trong tiến trình này? Đề tài này nên được sự chú ý nghiêm trọng và lâu dài.

Nếu phải đoán, tôi sẽ nói rằng sự đóng góp chủ yếu của bác sĩ của tôi trong việc làm bớt đi hay có thể là chinh phục được căn bệnh của tôi là ông ấy khuyến khích tôi tin tưởng tôi là một người hợp tác uy tín với ông trong việc này. Ông sử dụng hoàn toàn năng lượng chủ quan của tôi. Có thể ông đã không thể xác định hoặc chẩn đoán cái tiến trình mà cơ chế miễn nhiễm của cơ thể đã lấy được sự tự tin và biến thành tác dụng chống bệnh hoạn, nhưng ông đã hành động, tôi tin rằng, trong truyền thống tốt nhất của y học trong việc nhận ra rằng ông phải vươn ra, trong trường hợp của tôi, khỏi các phương thức kiểm chứng thông thường. Khi thực hành chuyện này, ông đã trung thành với câu châm ngôn đầu tiên trong giáo dục y tế của mình: trên tất cả, không gây hại.

Tôi đã học được vài chuyện khác. Tôi học được rằng không bao giờ đánh giá thấp năng lực của tâm trí con người và cơ thể để tái sinh- ngay cả khi tồi tệ nhất. Năng lực sống có thể là năng lực khó hiểu nhất trên trái đất. William James nói rằng con người có xu hướng sống quá nhiều trong giới hạn tự áp đặt. Có thể là những giới hạn này sẽ bớt đi khi chúng ta tôn trọng đầy đủ hơn nghị lực tự nhiên của tâm trí và cơ thể con người hướng về sự hoàn hảo và tái sinh. Bảo vệ và trân quý nghị lực thiên nhiên cũng có thể tiêu biểu cho sự thực hành tự do của con người cách tốt nhất.

 

Bạn thích bài này?
Bookmark and Share
Advertising
Sponsored links

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo
Rao Vặt Viễn Đông
Advertising
Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo