Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Sông Lam
Lần đi săn ảnh ở Ghềnh Son (1), tôi được một cụ già đãi trà lúc trời còn tối mờ sương. Chén trà trong sương sớm đầy thi vị. Lúc uống trà tự nhiên tôi chợt nhớ hai câu thơ nói về trà - rượu - trăng - hoa. Hai câu hai ngả, tôi nhập lại và cho đó là thơ cụ Nguyễn Du, lại còn thắc mắc không hiểu sao cụ Tiên Điền bảo: “Khi rượu sớm khi trà trưa”. Về sau có một độc giả, anh Vĩnh Quý cho biết: “Cuốn sách của ông hay, nhưng ông phê cụ Nguyễn Du tầm bậy”. Hỏi ra, đúng là tôi tầm bậy thật. Cụ Tiên Điền không nói “rượu, trà” mà “cờ, rượu”.
Khi chén rượu, khi cuộc cờ,
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.
(Kiều)
Tôi xấu hổ và ân hận, thầm hứa sẽ đến tận mộ cụ để tạ lỗi. Trong chuyến đi năm nay, đề tài “Thăm mộ thi hào Nguyên Du” được ghi hàng đầu trên chặng đường từ Bắc vô Nam. Từ Hà Nội đáp chuyến tàu đêm, 4 giờ sáng tàu đỗ ga Vinh, taxi từ ga Vinh đi Cửa Lò hết 80 nghìn hai người. Tôi định ghé bãi biển Cửa Lò một vài tiếng rồi đi Nghi Xuân nơi có Khu Lưu Niệm Nguyễn Du, từ Vinh vào Nghi Xuân không xa mấy, chừng nửa giờ xe.

Thành phố Vinh
Chúng ta thường nghe tên các cửa biển như Cửa Ông (Quảng Ninh), Cửa Việt (Quảng Trị), Cửa Lò (Hà Tĩnh)… Địa danh nước Việt, một số xuất xứ từ sự kiện lịch sử như trường hợp Cửa Ông (2), một số được định hình qua nhiều thời đại do dân gian truyền khẩu, đọc trại dần (3). Cửa Lò là bãi biển nổi tiếng nhất nhì nước Việt. Bãi dài gần 10 km, từ phường Nghi Thủy đến phường Nghi Hải (Cửa Hội), tuy nhiên bãi tắm du lịch chỉ tập trung ở phường Thu Thủy, Nghi Thu và một phần Nghi Hương. Cát trắng mịn, biển trong xanh, rừng phi lao vi vu tiếng gió. Bãi tắm lài lài ra xa không sâu đột ngột như bãi Nha Trang. Du lịch địa phương lại biết tổ chức cách chu đáo rất được cảm tình du khách. Bãi có thùng rác, có người đi nhặt rác nên bãi biển luôn luôn sạch đẹp (4).
Nét đặc biệt của Cửa Lò là con đường Bình Minh chạy dọc bờ biển, nhìn ra biển không có những công trình xây cất cao lớn chắn tầm nhìn của du khách. Quán ăn, giải khát nhỏ và tách rời không kết thành tường dài như bãi biển Nha Trang (Tôi đi không thấy biển thấy thuyền, chỉ thấy cây cao nhà hàng sừng sững). Lượn qua mấy vòng, ghi nhận đôi nét về Cửa Lò, tôi lên xe buýt trở lại ga Vinh. Xe buýt mỗi người chỉ 6.000 đồng. Chưa tới 30 phút xe về ga Vinh, tôi hỏi một taxi đi Nghi Xuân. Sách văn lớp Đệ Tứ (lớp 9) ngày trước đều ghi rõ: “Thi Hào Nguyễn Du người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”.
Nghi Xuân qua cầu Bến Thủy là đến, không xa mấy. Mặc cả cho có lệ rồi lên xe. Anh tài xế có vẻ cũng văn nghệ. Xe anh hát toàn nhạc dân ca, những bài đặc sệt giọng miền Trung:
“Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh, nhớ núi Hồng Lĩnh,
nhớ dòng sông La, nhớ biển rộng quê ta...”.

Nhà bình văn
Bài ca chợt đưa tôi về trại cải tạo A30 của những năm phong trào vượt biển lên cao nhất. Hàng tuần mỗi tối Thứ Bảy đều có văn nghệ trại. Buổi văn nghệ nào cũng “...nhớ về Hà Tĩnh, nhớ núi Hồng Lĩnh...”, tôi như nhập tâm bài hát. Cho dù có nặng lòng ân oán vì thời cuộc, tôi thấy bài nhạc có những đoạn rất hay.
Lúc nghe anh xe giới thiệu: “Cầu qua sông Lam”, tôi nhờ anh đỗ lại để chụp cảnh sông Lam núi Hồng (sông La là một nhánh của sông Lam). Dòng sông rộng êm đềm nhưng không tấp nập thuyền bè như sông Hương. Chếch về phía Nam, núi Hồng Lĩnh hiền hòa ở đó từ bao đời nay... Quê Hương Việt Nam là cả một màu xanh mườn mượt, biển xanh, sông xanh, đồng lúa xanh, núi đồi xanh... màu xanh nối dài tình người đi xa. Thấy mà không thể không thương không nhớ. Tôi đi bộ qua chiếc cầu mới tinh và “hiện đại” như nhiều chiếc cầu của Âu Mỹ, tai nghe văng vẳng “Nhớ cánh đồng muối trắng, tình sâu mấy nghĩa nặng, biển ta lại nhớ rừng...”. Hướng Trường Sơn cảnh đẹp gợi cảm hơn, sinh động hơn chứ không lặng lờ như cái đẹp của đồng bằng xuôi về biển cả.
Qua cầu, bác tài nhắc tôi: “Chú chụp về bên kia lấy ảnh trụ ống khói, đó là dấu tích duy nhất còn lại trong thời kỳ chống Mỹ”.
Lúc nãy anh cũng nhắc tôi đi chụp “tượng đài”, tôi ậm ự “tượng đài tôi chụp nhiều lắm rồi, anh biết chỗ nào hay, lạ, chỉ dùm”. Tôi đứng lặng, nhìn sông nhìn núi rồi bất giác nhìn về cả chuỗi ngày đã qua, bao nhiêu kỷ niệm của ấu thời gắn bó với đồng ruộng nương khoai. “Quả đầu mùa hạt sương mai lung linh nỗi nhớ – Trâu ơi ta về đồng cỏ mênh mông”. “Người bạn nhỏ” đến nhắc thầm: “Xong chưa, đi”.
Xe rời quốc lộ 1 ở ngã ba Gia Lách, chạy men theo hữu ngạn sông Lam. Nhìn bảng hiệu hàng quán hai bên thấy tên đường đề Nghi Xuân. Chạy chừng mươi phút, xe rẽ vào con lộ nhỏ, ngang qua một khu nhà hình chữ U mái ngói còn tươi, dãy nhà ngang ở giữa đâm mái lên 1 tầng phụ, theo lối thường thấy ở các tự viện. Trước sân, có bức tượng đen cao lớn. Anh xe bảo: “Khu Lưu Niệm Nguyễn Du”. Tôi nói với bác tài: “Mình chạy một vòng rồi trở lại”.
Chu vi khu lưu niệm khá rộng. Tôi nghĩ bụng: “Thế mới xứng với một Thi Hào”. Quành ra phía sau, thấy có cổng gỗ đã hỏng, tôi hỏi anh xe:
- Mình vào đây được không?
- Dạ được, để em đưa xe ra đậu phía trước.
- Vâng, rồi tôi đi dần ra.
Nhiều cây cao bóng rợp, cảnh thanh vắng, lối đi lát gạch, trang nghiêm sạch sẽ. Ba ngôi nhà cổ, hai ngôi vừa, một ngôi khá lớn, nằm song song cách nhau một khoảng sân. Nhác thấy có nhóm người đang đi về phía một ngôi “miếu” bên trái, tôi vội qua nhập bọn. Nhóm du khách vào thắp hương trong nhà thờ cụ Nguyễn Du. Tôi bước vào đứng trước bàn thờ với mọi người, trong lúc họ loay hoay đốt nhang khấn vái, tôi yên lặng cúi đầu thầm niệm: “Kính bạch Hương Linh cụ Nguyễn Du, tôi là hàng chiu chít, đã có lần vì ngu dốt nghĩ nhầm về Cụ, nay tôi đến xin tạ lỗi với Cụ. Kính mong Cụ rộng lòng tha thứ cho”. Trước khi lui ra tôi đọc mấy dòng khắc trên bảng đá: “Nhà thờ Nguyễn Du do Tiến Sĩ Nguyên Mai và Hội Khai Trí Tiến Đức xây dựng lại năm 1940”.
(còn tiếp)
Tháng 7 - 2003
(1) Ghềnh Son trang 117 QHQOK tập 1
(2) Đền Cửa Ông dựng từ đầu thế kỷ19, thờ Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng (con thứ ba của Trần Hưng Đạo) nơi đây có cảng Cửa Ông.
(3) Con sông Cấm chảy ra biển giữa một bên là dãy núi xã Nghi Thiết, một bên là dãy núi Lô Sơn thuộc phường Nghi Tân - Cửa Lò, khi gió biển thổi vào cũng như gió từ Trường Sơn thổi ra biển, người ta thấy nơi đây như một cửa gió lùa, nếu mùa Hè thì nóng như lửa lò, do sự kiện này mà cửa biển có tên là Cửa gió lùa. Cửa gió lùa rút gọn thành Cửa Lùa. Lâu ngày Cửa Lùa đọc trại ra Cửa Lò.
Cũng có một cách gọi khác do: Thuở mới thành làng, đất này có tên Hải Ngung, còn gọi Hải Giang (tên sông Cấm). Cửa sông ra biển gọi Cửa Xá hay Lô Tân, Xá Tân, về sau Lô đọc thành Lò rồi thành Cửa Lò.
Cách giải thích thứ hai cho rằng, Cửa Lò là địa danh gốc Malayo - Polinêsian nghĩa là cửa sông. Trong ngôn ngữ Malayo - Polinêsian từ kưala để gọi tên một con sông đổ ra biển. Dần dần, danh từ kưala (cửa sông) chuyển thành danh từ riêng Kưala/Kưalo (Kuala tiếng Mã Lai) rồi thành Cửa Lò. Còn dân gian thì cho rằng Cửa Lò là do vùng đất này ngày xưa là vùng biển, cư dân làm nghề nấu muối, ánh lửa phát ra từ những lò nấu muối tạo thành những ngon đèn hải đăng cho tàu thuyền ra vào cửa sông Cấm. Theo cách này “cửa lò muối”, biến dần thành Cửa Lò. Cho đến lúc người Pháp qua, tên Cửa Lò được chính thức công nhận.
(4) Đền Cuông Cửa Lò trang 170 QHQOK tập 3.
- Đã có QHQOK tập 13
- Sách đã in: Que Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 13, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách nguyên bộ 12 tập (discount), xin liên lạc:
Tòa soạn Nhật Báo Viễn Đông, 14891 Moran Street, Westminter, CA 92683. Điện thoại: 714-379-2851.
Những sách khác, liên lạc tác giả qua P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260. Website: www.ltcn.net - Email: trannhungcong46@gmail.com
Viendongdaily.com và tác giả giữ bản quyền bài và hình trên trang này. Xin đừng trích đăng dưới bất cứ hình thức nào.