Saturday, 03/02/2018 - 07:38:45

Lụa tơ tằm sau bao biến đổi

Bài HÒA GIA 

Khi cái tên Mã Châu dần trôi vào quên lãng, hồi ức về làng nghề tơ lụa truyền thống xứ Quảng theo đó chẳng còn ai nhắc nhớ. Mãi đến khi những người con sinh ra từ quê lụa dấn thân chọn cây dâu con tằm thì nghề dệt lụa của làng mới hồi sinh.


Làng lụa Mã Châu tự sản xuất sợi tơ để dệt lụa

Một buổi sáng đẹp trời tôi đến nhà Liên thăm cô bạn thân học cùng lớp ngày xưa sau hơn 20 năm lưu lạc trời Nam bươn chải mưu sinh giờ đã trở về quê hương trồng dâu, dệt lụa.


Con tằm

Nhìn Liên vào tuổi 40 đeo giỏ hái dâu trông vào tầm mẹ bạn ngày xưa và liên tưởng đến mình, trong khi con gái của Liên tuổi 16 hội tụ tất cả vẻ đẹp của cô bạn xinh nhất lớp tôi thời trung học như một sự khẳng định cái đẹp trường tồn, nhưng cái đẹp cũng phù du, mong manh, ngắn ngủi và không ngừng biến đổi, bị thay thế bởi thời gian.

Vật đổi sao dời. Ngày hôm qua đã đi rồi đâu còn nữa. Nhà bạn ngày xưa bên bờ sông Câu Lâu sau bao mùa mưa lũ một phần của làng bị con nước dữ cuốn trôi. Nương dâu hôm nay mấy mươi năm trước chỉ là rẻo đất được bồi lấp giữa dòng.

Bạn và tôi một như hồn biển dâu, một như kiếp con tằm đang trên quê hương mình nhưng đã trải qua bao thương hải tang điền.
Hai cô gái nhỏ trên nương dâu làm tôi chợt nhớ đến bài hát trong Kinh Thi:


Sản phẩm lụa Mã Châu

“Ngày xuân ấm áp
Chim hót đầu cành
Thiếu nữ hái dâu
Chăn tằm kéo tơ.”

Nắng làm hồng đôi má thiếu nữ đang tuổi tròn trăng. Liên khen hai nàng đã biết dệt lụa. Ánh nắng trên nương dâu có gì khác lạ mà người xưa lại dùng từ “nhật xuất phù tang.” Từ chốn cao xanh mặt trời chiếu sáng ngàn cây lá, gió đi qua, ngàn dâu linh linh sắc nắng vàng.

Buổi chiều, tôi bâng khâng trước hiên nhà Liên nhìn nong kén. Bên hàng xóm trải rộng những nong tằm ăn rỗi. Tằm ăn lá dâu nghe rào rào. Một nong tằm đang chín với những con tằm ửng vàng chưa kịp nhả tơ làm kén. Mấy khung cửi gắn mô tơ điện là điểm khác biệt để thấy nghề dệt lụa bây giờ đã khác xưa. Liên còn cười bảo ươm tơ cũng khác hẳn ngày trước, đơn giản hơn và chỉ có kiếp tằm và người trồng dâu nuôi tằm thì từ bao đời nay vẫn thế.



Nuôi tằm lấy kén (Hòa Gia)

Liên dẫn tôi đi xem buồng tằm. Gian buồng thoáng và sạch. Trứng tằm nhỏ hơn hạt cải, nở ra lũ tằm con li ti. Phải giăng mùng cho tằm con để tránh ruồi muỗi. Tằm non giống như con nít, yếu và dễ thương, ăn những lá dâu non, xắt mỏng hơn sợi thuốc rê, rắc lên thân tằm. Ăn xong rồi ngủ, sau ba tiếng đồng hồ thức dậy ăn tiếp. Rồi ngủ như trẻ sơ sinh, từ từ lột xác, xác mỏng rời nhẹ khỏi thân tằm. Tằm lớn lên theo tuổi tằm. Màu sắc chuyển từ trắng xanh sang hồng và ửng hồng. Chính tơ trong bụng tằm làm nên sắc màu này. Một lứa tằm trong vòng 25-30 ngày có thể cho được kén. Khi tằm nhả hết tơ làm kén bao bọc lấy mình tằm sẽ hóa nhộng.
Lý Thường Ẩn đời Đường có viết hai câu thơ:

“Con tằm đến thác tơ còn vướng
Ngọn nến thành tro lệ mới nhòa.”

Với Lý Thường Ẩn thì người nghệ sĩ chịu bao khổ đau, oan trái, hoạn lộ ở đời để học hỏi để lột xác, hóa thân thành kẻ sáng tạo tựa như kiếp tằm hoàn thiện một vòng đời đến lúc chết rồi vẫn tiếp tục nhả tơ.
Tôi về làng Mã Châu tìm mua một mảnh lụa và thăm lại bến đò Tơ với những ghe thuyền và nghe kể chuyện đời những gã bán tơ. Bến xưa giờ nên xóm mới. Tôi tự hỏi tên làng Mã Châu nổi tiếng mấy trăm năm với nghề dệt lụa có liên quan gì với hình hài con tằm, sinh vật thuộc loài sâu bướm nhưng truyền thuyết lại kể con tằm là hiện thân của một con ngựa và người con gái mà nó yêu. Cả hai biến thành thần tằm. Cùng nhả tơ dùng để dệt lụa, Người xưa thờ thần tằm Mã đầu nương (hình cô gái cô đầu con ngựa, hoặc cô gái khoát tấm da ngựa lặng lẽ nhả tơ). Thần tằm được những người làm nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa thờ cúng khắp nơi.

Liên bảo tôi không phải “con tằm đến thác vẫn còn nhả tơ” đâu. Thực tế đau thương hơn nhiều. Thế giới của sắc màu lụa là được kết tinh từ những đau khổ để hóa thân của con tằm.

Để có tơ dệt lụa con tằm phải chết. Chính loài người đã giết con tằm. Họ lấy được những sợi tơ óng ánh khi con tằm lúc này đã hóa thân thành nhộng và bị đem luộc chín, xác nhộng dùng làm thức ăn, làm thuốc bắc. Nếu không bị nấu chín nhộng sẽ hóa bướm (ngài) và cắn đứt tổ kén bò ra, đi tìm bạn tình để giao phối và đẻ trứng dù cả hai rồi cũng chết.

Khi trứng tằm nở ra tằm con thì một vòng đời mới của tằm lại bắt đầu: tằm nhả tơ làm kén, kén hóa thành nhộng, nhộng hóa thành ngài (bướm), ngài (bướm) đẻ trứng, trứng nở ra tằm. Đó là những con tằm được loài người nuôi lại để bảo tồn nòi giống. Nó không chết, nó hóa kiếp mãi mãi, kiếp này đến kiếp khác.

Tằm bị giết chỉ vì nhộng sau khi biến thành con ngài (bướm), không còn nhả tơ nữa mà dùng cái miệng sắc ngọt cắn đứt tổ kén chui ra, cắt vụn hết mọi đường tơ phá nát chiếc kén mà tằm đã thầm lặng nhả để quấn quanh thân tằm đến lúc tằm héo rũ, lột xác đau đớn. Tằm đã đi qua suốt một đời nghiệt ngã. Tằm ăn dâu nhả tơ, tằm chết để lại tơ, để lại cái đẹp cho đời.

Trong nồi nước trên bếp lửa than đang sôi sùng sục, mẹ của Liên bây giờ đã là bà cụ già ngồi gỡ từng sợi tơ từ miệng tằm, cẩn thận tách từ cái môi nhỏ xíu sợi tơ được tằm nhả ra. Cả ổ kén chỉ có một sợi tơ duy nhất. Bà mẹ lấy đũa vê từng ổ kén, khơi ra mạch tơ, kéo tơ đưa ra guồng rồi quay xa. Từng sợi tơ dài vàng óng cuốn mãi vào xa quay, mịn và chắc. Công đoạn cuối cùng là đưa vào khung cửi để dệt nên những dải lụa.
Vẻ đẹp của lụa là phụ thuộc vào tơ. Tơ óng thì lụa mềm. Nhìn những dải lụa mềm phơi đầu ngõ, phất phơ trong gió, lòng như vương tơ trời.

Làng dệt lụa Mã Châu có lịch sử 500 năm (Tên hành chính là Châu Hiệp thuộc thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Ngày xưa sản phẩm tơ lụa Mã Châu chuyên cung cấp cho vua chúa và giới quý tộc. Những thương lái nước ngoài từng đến mua lụa Mã Châu với những tàu hàng chất đầy. Lụa Mã Châu xuất đi khắp bốn biển, năm châu. Nhưng, có hưng ắt có vong, với hàng trăm năm dâu bể, những hình ảnh canh cửi, vòng tơ, nong tằm, dải lụa… đã đi vào thời gian.

Khi du khách tìm hiểu về nghề tơ tằm, lụa truyền thống Quảng Nam thì mong mỏi của mỗi người con quê hương là phục dựng lại nghề dệt lụa. Hình ảnh những nương dâu mướt xanh đang dần được dăm trồng trở lại, tiếng thoi dệt bắt đầu vang lên sau những nong tằm. Hai chữ làng nghề tưởng chừng như đi vào ký ức, nhưng có những thời điểm thịnh vượng, Mã Châu có đến hơn 2,000 hecta đất trồng dâu.

Trên mảnh vườn ông ngoại của Liên để lại, gia đình Liên cáng đáng đến ba nghề: trồng dâu nuôi tằm để lấy kén, ươm tơ và dệt lụa. Nhà Liên cùng hàng trăm hộ khác với hơn 2,000 khung dệt làm nên một đại công xưởng, có cơ hội để dệt nên những tấm lụa đẹp, phẩm chất tốt, cung cấp cho các tỉnh thành trong cả nước. Nhiều đơn đặt hàng ở nước ngoài cũng đã xuất hiện ở làng nghề lụa Mã Châu.

Bây giờ thì Làng lụa Mã Châu đã trở thành một bảo tàng sống thật sự về Lụa Mã Châu xưa. Nhưng các nghệ nhân vẫn thở dài: họ mới làm sống lại nghề lụa Mã Châu một thời vang bóng, phục hồi văn hóa làng nghề tơ tằm canh cửi xứ Quảng.

Duy Xuyên nơi có con sông Thu Bồn với những bãi bồi nổi lên giữa lòng sông. Hơn bốn mươi năm những nương dâu đã bắt đầu hồi sinh, trải dài ngút ngàn.

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp