Thursday, 02/07/2020 - 05:29:13

Gốm Thanh Hà thời đứng hình du lịch


Du lịch thời Covid - 19 hiếm khách, gốm Thanh Hà cũng đứng hình theo. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)


Bài NGUYÊN QUANG

Hội An hiện tại có một bảo tàng về gốm Thanh Hà, nằm cạnh làng gốm Thanh Hà. Có thể nói rằng thời đại bây giờ, việc dùng các vật dụng bằng đồ gốm sứ trong gia đình là một lựa chọn hoặc là xa xỉ, hoặc của giới nhà giàu lắm tiền nhiều của. Bởi thời du lịch, thứ gì cũng đắt nhưng thứ gì cũng rẻ, đắt là giá thành đắt nhưng lại rẻ trong cách nhìn rẻ rúng, đánh mất hồn vía của cả người làm nghề và khách hàng. Chính vì vậy, bất kì một làng nghề nào trụ lại được, tồn tại được sau khi được Bộ Văn hóa công nhận làng nghề thì đương nhiên là làng nghề đó phải còn những nghệ nhân đích thực, sống chết với nghề. Gốm Thanh Hà là một ví dụ. Nhưng rồi gốm Thanh Hà cũng vật vạ khi du lịch đứng hình, mọi thứ trở nên khó khăn, nguy cơ hiển hiện.

Làng nghề còn lại cái tên…


Chúng tôi gặp một nghệ nhân già, trong trường hợp này, chúng tôi xin phép không nêu tên, ông than thở, “Chỉ mới ba tháng không có khách mà mọi thứ trở nên khó khăn cùng cực!”

“Cụ thể là những khó khăn gì vậy ông?”

“Thì không có khách, mọi thứ ế ẩm, không có tiền, mua gạo thôi!”

“Vậy nguồn hàng mình bán đi hằng ngày thì sao thưa ông?”

“Thực ra hàng tiêu thụ chủ yếu ở chợ Hội An, nhưng chợ cũng ế, còn nguồn sống chính của mình là dựa vào du lịch lâu nay, từ chuyện làm những nhà trải nghiệm cho khách họ vào chơi, tương tác với đất sét, họ tự làm sản phẩm rồi mình nung giùm họ, thường mỗi vé cho khách như vậy chừng 50 ngàn đồng (tương đương $2.3 đô). Một ngày có chừng mươi lăm khách là đủ sống, thậm chí ổn định. Chứ còn bán gốm thì bây giờ chỉ bù lỗ thôi, mỗi lần nung như vậy tốn củi, than, mua đất sét đắt lắm, chỉ huề vốn nếu như tính bán sản phẩm.”
“Cháu thấy sản phẩm như nồi rang, chậu cảnh ngoài chợ bán giá khá là đắt?”


Những nghệ nhân thực thụ ngày càng hiếm bởi người theo nghề lâu năm không còn nhiều mà người yêu nghề cũng chẳng còn là bao. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Đúng rồi, làng nghề cũng giống như nông nghiệp vậy, trừ khi nhà nông mang nông sản ra chợ ngồi bán thì mới hi vọng có chút tiền, sản phẩm cũng vậy, giá ngoài chợ luôn đắt gấp ba lần so với giá tại lò. Mình làm nghề, nhà buôn họ tới mua giá vậy thì mình phải bán thôi chứ không bán thì chẳng ai mua, họ ra chợ bán giá cao gấp ba, thậm chí gấp bốn lần so với giá tại lò. Làm chi rồi cũng không qua nổi nhà buôn!”

“Từ mùa dịch tới nay các lò gốm có nhận được hỗ trợ nhà nước không ông?”

“Có chứ, mỗi gia đình được vài triệu đồng, như vậy cũng cảm ơn nhà nước lắm rồi, vì chẳng ai mong gặp tình trạng dịch bệnh để mà ngồi nhận tiền trợ cấp. Mà thực ra, ba triệu đồng ($128) cho ba tháng sinh hoạt của một gia đình thì tính kiểu chi cũng khó sống. Nói chung là làng nghề của mình dựa vào nguồn du lịch là chính. May sao trong mùa dịch này, còn một số sản phẩm để bán, cũng có đồng ra đồng vào để mua gạo.”

“Làng gốm của mình có những sản phẩm đặc biệt để xuất khẩu không ông?”


Cà rang, một trong những sản phẩm làm từ đất sét ở miền Tây sông nước. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Có, xuất khẩu cũng có mà trong nước cũng có, trước đây làng gốm sản xuất ngói âm dương, làm thủ công, rất đẹp, loại ngói này dành cho việc phục chế nhà cổ, các nhà rường ba gian, lợp ngói âm dương khi bị hư hỏng, phục chế đều rất cần đến loại ngói này. Ngoài ra còn những sản phẩm khác nhưng chủ yếu bằng đất nung, dành cho việc trang trí là chính. Nói về sản phẩm đất nung thì tôi tự tin để nói rằng đẹp và lạ. Nhưng trong mùa dịch này thì mấy ai mua hàng trang trí, nên mình cũng đứng hình theo cái phim chung của mùa dịch cúm thôi!”


Nghề làm cà ràng ở Cần Thơ, khi làng nghề chưa được công nhận, cả làng nghề còn đúng một người thợ theo nghề. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Nếu tình trạng này kéo dài thì liệu làng nghề của mình có trụ nổi không vậy ông?”

“Khó, rất khó, bởi vì hầu hết các làng nghề khi được nhà nước công nhận thì phát sinh rất nhiều chuyện nhiêu khê. Chẳng hạn như khi chưa được công nhận thì các nghệ nhân, các tay thợ lành nghề sẽ đóng vai trò chủ đạo, chủ xướng của làng nghề, nhưng khi được công nhận thì các nghệ nhân và thợ lành nghề phải chịu lùi một bước, nhận sự chỉ đạo của cán bộ nhà nước trực tiếp quản lý. Ban đầu họ cũng có rót cho chút kinh phí gọi là đầu tư, nâng cấp làng nghề. Nhưng sau đó thì mọi sự chỉ đạo của họ hoàn toàn gây nguy cơ cho làng nghề bởi họ không biết, không hiểu chi về nghề, họ cầm cục tiền và bằng cách này, cách khác buộc làng nghề vào thế bị động bởi cục tiền đó. Nhưng quan trọng hơn cả là họ mượn làng nghề để cắt xén kinh phí. Thường thì cán bộ quản lý làng nghề sẽ rất nhanh giàu, còn làng nghề thì mỗi lúc thêm khó khăn. Có nhiều làng nghề xây nhà thờ tổ lên xong thì bỏ nghề luôn. Như làng đúc Phước Kiều chẳng hạn, bây giờ chỉ còn vài nghệ nhân đi đúc chuông lưu động thôi, chứ các sản phẩm bày bán ở làng nghề toàn là hàng nơi khác gởi về bán thôi. Toàn hàng ký gởi, làng nghề còn lại cái tên.”


Nói đến làng nghề là nói đến các dấu vết, di chỉ thôi, chứ đừng mong tìm được làng nghề thực thụ thời giả cầy. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 

Cái giá của phát triển nóng

Đúng như lời của vị nghệ nhân già này chia sẻ, hầu hết các làng nghề tại Việt Nam đều phát triển nóng, mở rộng, ồ ạt để làm du lịch và đánh mất hồn cốt của nó. Bây giờ tìm một làng nghề còn giữ được tính chất của làng nghề là quá khó. Mâu thuẫn giữa chạy đua trên thị trường, sức mạnh thị trường hóa và tính bí truyền làng nghề là một nan đề của những người còn tâm huyết với nghề. Ngay cả cái nhìn của khách du lịch, những người có quan tâm đến các làng nghề cũng như cơ sở hình thành văn hóa vùng miền và các nhóm nghề thì hầu như mọi chuyện đang ngày càng trở nên xấu đi.


Khi làng nghề được công nhận, những nghệ nhân đứng giữa thử thách cơm áo gạo tiền buộc và lương tri nghề nghiệp. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Anh Luật, một du khách, cũng là người dành thời gian nghiên cứu về các làng nghề gần hai mươi năm nay, chia sẻ, “Theo tôi thấy thì bây giờ nói làng nghề là nói đến các dấu vết, di chỉ mà thôi, chứ đừng mong tìm được làng nghề thực thụ!”

“Anh có thể nói sâu hơn một chút được không?”

“Các làng nghề chính thức chết đi từ khi nhà nước công nhận nó. Vì sao? Vì nếu như trước đó, người ta dựa vào lửa nghề, dựa vào sự chỉn chu, tay nghề, đặc biệt là sự thiện nghệ để sống và muốn có được sản phẩm độc đáo thì phải sống với nghề… Thì sau khi được công nhận, cái tâm lý chung của làng nghề là dựa vào nhà nước, trông chờ vào khoản tài trợ từ phía nhà nước. Mọi thứ trở nên thụ động, mất đi cái sinh động của một làng nghề sống dựa vào sức hấp dẫn của sản phẩm. Chính vì vậy mà các làng nghề Việt Nam đều bị chết đi, may mắn lắm mới còn cái làng gốm Bát Tràng vẫn có thể xuất khẩu gốm, trình diễn, bán gốm, hoặc làng mộc Kim Bồng, Hội An. Nhưng tuy là còn sản phẩm mà vẫn cứ chết lỳ so với trước. Bằng chứng là khi du lịch ế ẩm thì tự dưng nó vắng vẻ, chẳng còn không khí sản xuất. Như vậy, nói cho cùng thì làng nghề chỉ dựa vào du lịch chứ không dựa vào thực lực sản xuất.”


Nhiều làng nghề, ngành nghề chết dần chết mòn khi không khí chợ búa bủa vây. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Chuyện này nghe có vẻ đậm chất nghiên cứu quá, xin anh chia sẻ một vấn đề khác nghe đơn giản hơn, chẳng hạn như không khí làng nghề trước và sau khi có du lịch?”

“Nói thực thì trước du lịch, làng nghề là làng nghề, mình bước vào đó, có thể bắt gặp những sản phẩm đẹp, bắt gặp cái không khí chuyên cần, tỉ mẩn, say sưa làm và làm gần giống như là thiền vậy. Và khi mình vào làng nghề, họ xem mình là khách, là người tới thăm, có thể mua sản phẩm, họ chào mình một cách chân thật, vui vẻ. Nó khác xa khi du lịch mọc ra, các làng nghề tham gia du lịch thì mọi chuyện trở nên khác hẳn, tính trình diễn và những lời mời chào đãi bôi mọc ra đầy các làng nghề. Thay vì nhìn khách là khách, chào nhau chân thành thì bây giờ, khách tới nếu không giống như một người cống nộp thì cũng giống một con mồi đi lạc. Điều này vô hình trung tạo ra không khí văn hóa nửa nạc nửa mỡ ở các làng nghề. Các nghệ nhân không còn chú tâm vào nghề, bị phân tâm bởi khách nhưng để hấp dẫn khách theo kiểu người làm du lịch thì họ không có được, bởi họ là người làm nghề. Hệ quả của nó là các làng nghề chết dần chết mòn, thay vào đó là không khí chợ búa. Thật đáng buồn khi đưa ra nhận xét này!”


Không ít nghề khác ở Hội An cũng dựa vào du lịch chứ không dựa vào thực lực sản xuất. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Liệu sau đợt dịch Covid-19 này, người ta có đủ thời gian để suy ngẫm, biết mình nên làm gì với nghề của mình không anh? Theo anh nhìn thì sao?”


Những nghệ nhân hiếm hoi còn yêu nghề, chắc có lẽ là những người đã theo nghề, gắn với nghề trên 50 năm. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 

“Tôi cũng hi vọng giống anh, hi vọng rằng sau một thời gian dài đóng băng, người ta đủ tỉnh táo để nghiệm ra câu chuyện. Nhưng hình như sống trong bầu khí quyển kinh tế xã hội chủ nghĩa quá lâu, chụp giật, tranh giành, đâm bị thóc thọc bị gạo, đội trên đạp dưới… quá lâu, điều đó trở thành thứ văn hóa, ăn thành nếp trong bất kì người Việt Nam nào. Đến khi có cơ hội thì tính năng đó lại trỗi lên. Hơn nữa, sự phẫn uất bởi bất công, ví dụ như gia đình các quan chức không bị thiệt hại nhưng lại được hưởng hỗ trợ chính phủ, các gia đình bị thiệt hại thì không được hưởng hỗ trợ… Tất cả những phẫn uất đó tạo thành sự phản kháng và rất khó để nói rằng người ta sẽ điềm tĩnh hơn, sâu sắc hơn sau cơn dịch. Nên tôi cũng thấy buồn!”


Một trong những sản phẩm được bán cho khách du lịch với giá hơn $2 đôla khi đến với làng gốm Thanh Hà, bán lẻ sản phẩm kiểu này và bán vé trải nghiệm là hai nguồn thu chính của hầu hết gia đình làm nghề ở làng. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 

Mấy chữ “tôi cũng thấy buồn” của anh Luật, một người nặng lòng với văn hóa làng nghề Việt Nam buông ra trong lúc thế giới đầy biến động như vậy, nghe có chút gì đó nặng nề và hoang hoải, khó nói! Liệu thời gian sau này, mọi thứ sẽ ra sao? Câu hỏi ấy cứ day dứt, tựa như mảng chiều nằm chết cứng trên dòng sông Hoài, một dòng sông đang chết dần chết mòn theo thời gian và nó phải gánh nặng hai chữ “di sản” trên vai!



Thu nhập của các gia đình làm nghề gốm ở Thanh Hà chủ yếu phụ thuộc vào khách du lịch thông qua các dịch vụ 'trải nghiệm' tập làm gốm. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)




SPONSORED LINKS - LIÊN KẾT TÀI TRỢ

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

Bình luận
Vô Ngã Phạm Khắc Hàm đã nói: Làng gốm thời DU LỊCH, tiền bạc nhờ KHÁCH du lịch đến mà có nên khi covid-19 ập đến, ít khách du lịch tới, làng gốm sống cũng ÉO UỘT theo là đúng rồi. CHUYỆN BÌNH THƯỜNG, CHẢ TRÁCH ĐƯỢC AI.
Advertising