Wednesday, 18/11/2020 - 05:17:08

Đồn điền Pháp, cánh cửa mở... cho người… thỉnh kinh




Bài LÝ KHÁNH HỒNG


Ta nâng trang sách, ngàn thu đọng

Trời đất rưng rưng giữa mịt mù…

….

Từ đấy ngàn năm

vách lắng tai

Lời kinh vi diệu

thấu linh đài

Tình thương

từng giọt

rơi trên đá...

Thơ Vô Ngã *


Đi thỉnh kinh!?  

Cái vụ này có dính gì vào tâm linh hay không. Có thì còn hú họa, may ra, được! Đôi điều. May ra...

E không phải. Chỉ trông vào mức độ thành khẩn, của người đi tìm. Được không?

Cứ được đi. Vì cũng có thể diễn dịch. Thành ra … là. Đi tìm những gì mình cần, thật cần. Những cần thiết cho một kiếp, hay một đời của những con người muốn sống đời sống tươi sáng.

Như người được sống với tâm linh và niềm tin của mình. Để rồi,

Tình thương

từng giọt

rơi trên đá...

Nhưng sao ở đồn điền Pháp! Lại đùa.

Cái gì ở đó? Liệu có cần không? Không đùa được với các cụ đâu.

Xin thưa. Không đùa.

Chẳng những với các cụ. Mà còn muốn trình bày với các em, cháu của tôi. Cái vấn đề: Có cần không, đổi mới cho Việt Nam hôm nay?

Ai chả biết,

Dưới thời Triều Nguyễn.

Đất nước ta, Bế quan tỏa cảng.

Nghĩa là, nước Việt Nam áp dụng chính sách: đóng cửa không cho người ngoại quốc vào và không giao thiệp với người nước ngoài.”

Học giả Dương Quảng Hàm, còn cho biết thêm,

Xét ra thì có hai cớ chính:

  1. 1.    Lòng tự cao: (nhà nước ta) tự coi mình là văn minh, và trừ nước Tàu ra, coi người nước khác là man di mọi rợ cả (xem như buổi ấy trong văn thư thường gọi người Âu châu là “Bạch quỉ” thì đủ hiểu cái tâm lý ấy.) Vì lòng tự cao ấy, nên không muốn giao hảo với người nước ngoài.
  2. 2.    Lòng nghi kỵ: đã không để cho người nước ngoài đến ở đất nước mình, lại không cho người mình đi du học hoặc buôn bán ở nước ngoài, nên không biết tính tình, phong tục của người nước ngoài; lại thấy họ dùng những máy móc kỳ dị, nên sinh lòng nghi kỵ, không dám cho họ vào nước mình, sợ họ có manh tâm mưu sự xâm chiếm chăng. (1) (Việt Nam Văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm, Bộ Giáo dục VNCH,Trung tâm Học liệu xb; Đại Nam tái bản, tr.342.

Một học giả khác. Cụ Trần Trọng Kim kể,

Nhiều người đi xa về. Nói lên cái mới mẻ, cái lạ của nước ngoài. Đều bị gạt bỏ.

Không phải chỉ có ông Nguyễn Trường Tộ, mà sách sử có ghi. Năm 1866, là năm Tự Đức thứ 19, ông đi.

Để thấy cái mới mẻ.

Ông đi qua nhiều nước. Ít ra, cũng hai nước, Ý, Pháp. Thời gian ở lại nước ngoài, lâu, đến cả mấy năm. Học hỏi.

Về. Dâng điều trần lên Vua. Đề nghị cách thế thay đổi cho kịp với những thay đổi các nước khác.

Vua nhờ Triều thần xem xét hộ cho Vua.

Kết quả.

Những đề nghị làm mới đất nước lại bị bỏ xó.

(2) Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Đại Nam xb, tr.240.)

Bởi.

Trước giờ. Nước ta được cai trị bởi những người “thủ cựu.” Những nhà nho, học theo lối từ chương, lấy văn chương thi phú của người Tàu làm chánh. Thi đỗ, cũng bằng cái lối thi chỉ chú trọng đến văn chương, thi phú ấy, họ được làm quan.

Với họ. Nước Tàu là mẫu mực. Mọi việc, cứ theo lối cũ mà làm không lý gì đến việc canh cải.(1);nt, sđd, tr.343.)

Lại nữa.

Vào cuối thế kỷ 19, nước ta bại trận, sĩ phu của ta có phong trào bất hợp tác với địch, các nhà nho ái quốc đều cấm các con cháu học… (tây học.) Vậy nên chỉ có những người ít liêm sĩ mới nhảy ra xu mị tân trào.” Một nhà biên niên sử khác, đã ghi chép. (3): Việt sử Toàn thư, Phạm Văn Sơn, Đại Nam xb, tr.699.)

Ông cho biết, các nhà chính trị, với cái nhìn sâu sắc, tinh tế (sic.) đã cho rằng, Việt Nam chỉ là một thuộc địa để khai thác của Pháp. Mọi công cuộc người Pháp thực hiện ở đây là chỉ để phục vụ quyền lợi của họ, người Pháp. Hơn là để phục vụ đám dân bản xứ. (!)

Vì vậy… “đường xá, cầu cống làm ra chỉ để chuyển dịch hàng hóa, sản phẩm của các nhà buôn, nhà kỹ nghệ, nhà trồng tỉa và để hành quân bảo vệ người Pháp ở đây hơn là phục vụ đám dân bản xứ.” (nt, sđd, tr. 608.)

Rồi. Những người dân quê hiền lành của ta đã bị cưỡng bách đi làm phu phen, cu ly ở các đồn điền, các xí nghiệp, thường có đi mà chẳng có về nhất là các người đi làm phu các đồn điền cao su đất đỏ, mỏ than Hòn gay thường bị đánh đập dày vò, lại thêm ma thiêng nước độc, chết vô kể. (3, nt, sđd, tr.699.)

Mặc dù, trước đó. Ông ghi nhận. “Hậu bán thế kỷ XIX, Việt Nam đã thành thuộc địa của Pháp. Các việc lớn nhỏ đều do người Pháp nắm giữ hết….

….Đứng vào địa vị người Việt Nam ở thế hệ cũ ta thấy quả bộ mặt cũ của xã hội Việt Nam có thay đổi rõ rệt vì đã bớt được nhiều con đường nhỏ hẹp, những thị thành lụp xụp, nghèo nàn ánh sáng, trục giao thông thủy bộ mở được nhiều,....xe điện xe hơi, tàu hỏa đi khắp xứ.

Về văn hóa, cái học của Tây phương có phần khoáng đạt và có tinh thần dân chủ hợp với sở nguyện của nhiều người… (3,nt, sđd, tr.697,698.)

Sao lại có nhiều nghịch lý trên những nhận xét, trên nhiều nhận định, nói là dưới cái nhìn tinh tế của những nhà chính trị. Mà nghe ra không tránh được những khiên cưỡng, những lối nói, giống hệt lối nói (lấy được) của một thành phần chính trị có sau, sau này của đất nước.

Với lối nói đó. Cho mãi đến,...

Đến khi nước Pháp đã sang lấy đất Nam kỳ, đã ra đánh Bắc kỳ, tình thế nguy cấp đến nơi rồi, thế mà cứ khư khư giữ lấy thói cổ….” (2) nt, sđd, tr.241.)

Vẫn không sửa đổi.

…Mãi đến khi.

Các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Tăng Bạt Hổ,... biết đến các tư tưởng tiến bộ và cao đẹp của các nhà cách mạng Âu châu, Jean Jacque Rousseau, Montesquieu,...(Lại cũng qua cái phễu lọc người Tàu. Đọc sách Tàu. Lần này qua cánh nhà nho tân tiến. Lương khải Siêu, Khang hữu Vi.).Vì vậy mà chúng ta không mấy lấy làm lạ, sau này, khi nghe các cụ gọi tên Montesquieu theo cái lối phiên âm và đọc chữ, rất Tàu. (Mon, te, s(ơ,) quieu) thành, là Mạnh Đức Tư Cưu.

Cũng là lúc Minh trị Thiên hoàng và các trí thức Nhật tiến hành cuộc Duy tân tự cường đất nước họ.

Là lúc Phan Bội Châu và những người cùng chí hướng lập ra Đông Kinh Nghĩa Thục, những năm 1904-1905. Là lúc Phong trào Đông Du, chật vật, đưa người sang Nhật học hỏi. Để có cán bộ được học những cái mới, hiểu biết đủ hầu chống Pháp hữu hiệu. Xây dựng cơ sở cho quốc gia sau này. (3, nt, sđd, tr.681)

Là lúc Phan Chu Trinh kêu gọi. “Pháp Việt đề huề.” Nương theo học thuật, cách tổ chức, cách điều hành,... theo Tây học của Pháp để nâng cao dân trí.

Nhiên hậu, ta nói chuyện giành lại độc lập cho đất nước. Khi có thể.

Là lúc. Một bộ phận những con dân yêu nước. Trẻ. Có học. Đứng lên đáp lời sông núi

Cái học mà người khác coi là cái học để “tối (có) champagne, sáng sữa bò.” Và của những cảnh tượng rất khiên cưỡng, rất khó coi: “...trên ghế bà đầm ngoe (ngoi) đít vịt, dưới sân, ông cử...ngẩng đầu rồng.”.Cái học với tất cả những tiêu cực của nó được những người chống nó, coi là cái học “đã hỏng rồi!”.

Chính cái học đó. Không có cái học nào khác nữa. Mà những người trẻ của ta thời đó đã học. Học gì? Học những điều bị xem là để làm tay sai.

Sao lại có điều trái khoáy này?

Chỉ vì, những người chống cái học mới mẻ, người thủ cựu, chỉ có họ, có quyền.

Còn có lớp người khác.Về sau này.

Những người của độc quyền, chỉ họ được phép làm. Độc quyền. Bất cứ điều gì, việc này, hay việc kia. Ngoài họ ra không ai được phép làm.

Dù cũng là cái việc đó. Người thực hiện là họ, thì được.

Không phải là họ. Không phải họ làm. Không được.

Mới có việc gán nhãn hiệu tay sai này.

Gán cái nhãn tay sai cho những người theo tây học. Là bước đầu.

Sẽ có (những kẻ thù,) những Việt gian, những Trí thức,... tiếp vào bảng liệt kê.

Để rồi có những thành phần công dân yêu nước khác không hề được coi là có mặt trong cái trường kỳ lịch sử của toàn dân ta.

Trong lịch sử hôm nay, với sự mô tả rất dè sẻn dường như có chủ ý, phần lớn người Việt Nam chỉ biết đến các bậc tiền nhân Việt Nam Quốc Dân Đảng bằng thất bại và sự hy sinh mà thôi. Các ghi chép dễ tìm thấy, chỉ gói gọn trong câu chuyện Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của mình hiên ngang ra máy chém ngày 17-6-1930. Nhưng trên thực tế, một Nguyễn Thái Học nằm trong trái tim người Việt, còn là một nhà đấu tranh cải cách ôn hòa, trước khi chọn kháng chiến vũ trang như giải pháp cuối để dành độc lập tự do cho người Việt. (4, “Nguyễn Thái Học…” Tuấn Khanh)

Cái học có được của những người trẻ, theo Tây học, sau đây, dù là học được qua cai trị của Pháp. Nhưng qua những lọc lựa, để có sự chọn lựa của chính mình. Họ thành một lớp người, quê hương không thể nào chê trách. Hay loại bỏ. Coi như không có họ.Vì họ đã tạo cho mình những bản lãnh cần thiết. Những hành động anh hùng và những ước muốn, nếu thực hiện được sau này, sẽ làm cho xứ sở tươi đẹp hơn.

Thử đọc lại thư viết gửi Toàn quyền Pháp, gửi cả cho nghị viện Pháp, của anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học trong lúc còn bị giam giữ ở khám đường. Bức thư gửi ra. Không đến được nơi nhận. Mãi về sau. Được một ký giả Pháp tìm thấy đăng tải lên báo Pháp. Bản dịch được đăng trên tờ “Xưa và Nay,” trong nước, số 332, tháng 5,… 2009.

Xin đọc khoảng 5 trong năm yêu cầu, hay đòi hỏi, (cũng vậy thôi.) Đòi hỏi để người dân Nam được học hỏi phát triển thương mại và kỹ nghệ của các ông (người Pháp).

Đòi được học hỏi, chỉ học thôi. Chứ không đòi được làm thương mại, làm kỹ nghệ. Là ý kiến của một nhà cách mạng có bản lãnh. Lo cho tiền đồ của đất nước. Cái lo của người nhìn xa.

Cái đòi cho được, số 5, trong năm đòi hỏi.

5. Phải cho dân An Nam học hỏi phát triển thương mãi và kỹ nghệ của các ông

Xin các ông Nghị nhận nơi đây sự biểu tỏ tình cảm kính mến của tôi

Địch thủ của các ông, nhà cách mạng

Ký tên: Nguyễn Thái Học

(Bản dịch được ông Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, chủ nhiệm Tuần báo Tân Dân, miền Nam VNCH hiệu đính năm 1969.)  (4, nt, sđd.)

Xem cái cách nhà cách mạng trẻ của ta yêu cầu kẻ thù. Lịch sự. Có thừa.

Nhưng có phải chỉ là nhũn nhặn không thôi? Hay lại muốn đổ tội là thỏa hiệp, như rất nhiều người mang cái án oan này!

Sẽ thấy nhà cách mạng của chúng ta giao thiệp với kẻ thù. Dù đã sa cơ, vẫn một mực là mình. Là. Địch thủ của các ông. Nhà cách mạng.”

Hiên ngang vậy.

Mà. Sao phải yêu cầu địch quân? Sao phải năn nỉ?

Liệu nó có làm cho không? Có rõ ngu không?

Phải có cái học mà nhà cách mạng của chúng ta học từ người Pháp, những điều ông muốn học. Mới hiểu ông.

Ông học. Để biết, văn hóa của nước Pháp.

Để biết con người, người Pháp.

Cái có thể và cái bất khả. Biết họ nghĩ gì. Làm gì. Trường hợp nào…

Viết thư. Đòi cho được cái đòi hỏi của mình phải được chú ý. Đây là cách tốt nhất, nhà cách mạng chúng ta còn có thể. Cái trường hợp, không thể không có.

Phải cho dân tôi học các ông,... Cái điều Năm. Cái đòi hỏi thứ năm đó.

Nguyễn Thái Học, vì sao đòi? Vì nước ta cần. Dân ta cần.

Mà còn. Phải để dân tôi học các ông,... vì các ông cũng cần.

Thực hiện cho được nó, nó đó, cùng các yêu cầu khác của chúng tôi gửi tới ông. Các ông được yên ổn hơn.

Nhà cách mạng của chúng ta không năn nỉ. Chính là thuyết phục.

Người ta chỉ thuyết phục một người khi nghĩ rằng người này còn biết nghe, còn đối thoại được, biết phải, biết trái....

Nhà cách mạng trẻ của chúng ta thuyết phục người Pháp mà ông, bằng vào cách của ông, đã có những hiểu biết về họ. Và... nhất là. Khi ông nắm vững cái chân lý: đôi bên cùng có lợi.

Đôi bên cùng có lợi. Tại sao không làm? Phía ông cũng như phía tôi!

Về phía tôi, (tôi, Nguyễn Thái Học). Nhu cầu học hỏi, trực tiếp với người Pháp, nhu cầu có thật và vô cùng thiết thực. Thiết thực. Với ta. Dân ta.

Thế sao, nếu ai học nó thì có người cứ khăng khăng, dảy nảy,.. Ra cái điều “em chả,.. em chả.” kiểu cách bà Phó Đoan, nhân vật nữ trong “Xuân tóc đỏ,” của nhà văn Vũ Trọng Phụng, là sản phẩm lố lăng điển hình của cái xã hội mới khi người ta theo Tây học, qua cách nhìn của những người không chọn cái mới.

Em chả? Khi nói tới cái học những mới mẻ của người ngoại quốc.

Người ta, cũng là người ta, nhưng là người ta của chúng ta, sau này; vào lúc đó, họ vin vào cái lòng yêu nước.

Yêu nước. Người ta không cho phép có sự hợp tác với Tây, bọn cướp nước.

Với hành động đó, ngay cả chỉ tiếp xúc thôi, thậm chí, chỉ bị nghi là tiếp xúc, nhiều người đã bị giết; rồi ra, chính cái khẳng định này, đã đưa nhiều người, thật nhiều người trong những dòng suy nghĩ khác, phải mạng vong. Họ bị những người Cộng sản kết tội họ làm “Việt gian,” làm gián điệp, tay sai Pháp,... xử tội họ bằng những hình thức tử hình! Bắn bỏ. Mổ ruột. Chặt đầu. Thả trôi sông. Đập đầu. Bêu thây đầu ngõ,...

Bao nhiêu là nạn nhân. Bao nhiêu người dân trong làng xã quê nghèo. Nhiều bà mẹ quê. Họ. Những người dân quê. Chưa hề tai tiếng. Bị giết.

Lại có nhiều người tăm tiếng. Nhiều người là văn nhân. Là học giả. Là Phạm Quỳnh. Là Khái Hưng,...đã chết dưới tay những người, cho mình cái độc quyền ấy.

Thế nhà cách mạng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và cả Nguyễn Thái Học của chúng ta không có lòng yêu nước sao?

Đặt được câu hỏi này. Chúng ta dần dần mở được nhiều khuất tất, nhiều mắc mứu của thời sự đất nước.

Sẽ trả lời được nhiều dấu hỏi, khi nhìn vào thái độ của bốn nhóm người, những người với các phản ứng ban đầu khi gặp Đồn điền Cao su Pháp. Xin đọc lại “Đồn điền cao su Pháp và Sài gòn trong mắt ai.”

Trong bốn nhóm người đó. Hai nhóm không ưa Đồn điền Pháp.

  1. Những con hổ nhớ rừng của Thế Lữ. Những nhà nho thủ cựu. Những người vì không muốn biết điều gì ngoài những điều họ đã biết. Nhưng họ lại xem mình như cha mẹ dân, những Quan chi phụ mẫu. Họ cũng có lý lẽ riêng. Để không chấp nhận cái họ ghét.
  2. Nhóm thứ hai. Những người có nhu cầu đánh đổ những hiện tượng; những, bất cứ, những bất cứ những gì mà hình ảnh của nó làm lu mờ sự hiện hữu của họ, làm vị thế của họ có thể bị tranh đoạt.

Đồn điền Pháp. Trong trường hợp này là, mục tiêu của những lớp người ấy. Nếu vạn dĩ, nó càng có giá trị. E rằng nó càng được đập phá cho mau. Vì họ là những người Cộng sản.

Họ có riêng cho họ.

Một tổ chức, một phong trào với cái tầm vóc Quốc tế.

Họ chủ trương dùng bạo lực, sắt máu, trấn áp kẻ thù. Stalinism. Ta, bạn, thù. Họ đều có sẵn kế sách. Cho từng lúc. Lúc này. Lúc khác,... Lúc nào, có “đối tượng,” cho lúc ấy.

Vô phước. Nước ta lại ở trong tay họ. Cái sắt máu không chỉ riêng cho ai. Ai mà họ coi là kẻ thù, đều được hưởng đồng đều. Hôm nay. Tôi. Mai. Có thể là bạn,

Hôm nay Phạm Đoan Trang. Mai. Phạm Chí Dũng,... Cứ thế.Cho đến tận cùng của bậc thang của ta, bạn, thù, Chỉ trơ lại họ với nhau thôi: CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH.

Họ có riêng cho họ. Một phương cách.

Gây căm thù giữa các “giai cấp,” Karl marxism.

Căm thù.

Giai cấp.

Có. Khuếch đại chúng lên.

Không ư? Tạo ra.

Họ biết, như ta biết. Con người, vốn là, con gà ghét nhau tiếng gáy. Hay hai cô ca sĩ có thương nhau bao giờ. Lại còn tưởng như cao ngạo, “kiếp sau xin chớ làm người,...” dễ ghét.

Ta biết thế. Lại cứ coi con người, Nhân chi sơ, tính bản thiện.

Họ. Không vậy. Họ nhìn cái đám đông. Bầy đàn. Lại chỉ thấy mình, chỉ mình, những cây thông sừng sững giữa trời mà reo.

Khích bác. Cứ thế. Tạo thêm ra.

Khích bác. Thế giới rồi ra sẽ chỉ ở trong tay người xử dụng cái ÁC. Họ nắm vững những gì bậc thầy thượng thừa của họ tìm ra. Dùng sắt máu đối chọi với những con người mà một ông Tây (nào?) có nói, con người là, “cây sậy, nhưng là cây sậy có tư tưởng.”

Cây sậy thì,... cũng dễ.

Tư tưởng, thì mấy ai tin là có.

Tách chúng ra. Cô lập lại. Cất, dấu. Những cây sậy có tư tưởng ấy, con đầu đàn. Cả bầy vốn đã chả thấy cây sậy nào có tư tưởng.

Chả ai hơn mình. Mình mới khôn.

Cứ để chúng thấy chúng như thế. Một bầy, chỉ cần con đi đầu. Một con đi đầu, giống cái con đầu đàn. Đi đâu, đàn theo đó,…

Để hạ bệ những gì không thuộc về Xã hội chủ nghĩa.

Bởi vậy, mới có,

Những căn nhà, (cái kích thước của nó được nhìn cho to hơn,) thành ra “dinh thự; ” những nhu cầu và những thói quen trong cuộc sống hàng ngày, của một lớp người, thành ra “tiện nghi.”

Được nhìn với hàm ý của xa xỉ, của thừa mứa. Khó lòng được chấp nhận. So với đời cùn hàn, quá nghèo (của dân ta.)

Thật ra, những cái đó đều là các cái mà ai quen với lối sống người Âu tây sẽ thấy, chúng là những tiêu chuẩn thường ngày… trong cuộc sống (của họ.)

Nhất là khi người ta nhân danh tranh đấu đòi cho được cuộc sống bình đẳng. Đòi cho được sống không có bất công,...

Bởi vậy, thêm vào đó, một xã hội có cái cơ cấu tổ chức cần thiết cho điều hành hiệu quả công việc; có thể là một bằng cớ của phân biệt giai cấp, cặp rằng và phu.

Cặp rằng, dường như lập ra, chỉ để đánh đập, đàn áp dân phu.

Lập luận này, ngày nay vẫn còn được nghe, được thấy. Chẳng phải chỉ trong những bảo tàng Cao su Tây, cũ, hàng trăm năm. Ở Dầu Tiếng, ở Dầu Giây,... mà cứ nhắc tới cao su ở Việt Nam, là có... nghe!

Bởi thế. Một thực tế về tình trạng vệ sinh. Chung cho mọi người. Chỉ hơn nhau ở chỗ phải biết tránh cho nó không xảy ra với mình. Bằng không. Không ai thoát.

Con vi trùng sốt rét ngã nước, với những con muỗi rừng Anophen. Chúng nào có biết loài người có giai cấp. Chưa ai ra lệnh cho chúng chỉ được cắm cái vòi hút máu nhân dân. Không được bén mảng tới cái lông tay, lông chân bọn thực dân. Chưa ai. Vậy nhưng,...

Sốt rét là (chỉ) dành cho dân phu. Chỉ dân phu, được mộ vào làm cho các đồn điền. Cái Bất công!? (5): “Bến Nghé xưa,” Sơn Nam.

Những diễn dịch. Một thời. Dựa trên các sự kiện, mang những hình ảnh rõ nét của thời ấy.

Thời này. Những diễn dịch cho ta những hình ảnh của thời nhân danh chống áp bức, bất công.

Sẽ có những diễn dịch khác. Khi chúng ta ở vào một hoàn cảnh khác.

Dĩ nhiên. Nhưng có lý nào. Để làm việc này, chúng ta lại ấu trĩ khi chọn cái hoàn cảnh mà chúng ta muốn nó khác với những gì nhóm người trên đây, là suy nghĩ của những người muốn theo học những điều bị chống đó. Và coi nó như một chọn lựa thay thế, tất nhiên và chung cuộc.

Mà phải thấy.

Đây cũng là một diễn dịch. Một cái nhìn từ một hiện thực. Với cảm quan khác.

Chưa kể, nếu ta chỉ nhìn những gì ta thích. Sợ rằng ta chỉ có cái nhìn hẹp hòi của người chỉ thấy đồn điền như những hình ảnh của một thắng cảnh hay một di tích.

Dĩ nhiên cũng tìm ra lợi nhuận, tiền.

Nhưng liệu có so được với cái thấy khác, khác hơn. Nếu có.

Nên. Trong cái ước muốn Làm Mới Việt Nam. Chúng ta phải để chúng ta có cái nhận định. Của riêng mình. Như một người độc lập trong suy nghĩ.

Hãy để cái hình ảnh của con người tự mình có những quyết định cho mình như người đấu tranh cho nước cho dân, Nguyễn Thái Học, đã làm. Là chọn con người có suy nghĩ độc lập. Nguyễn Thái Học, như hình ảnh người, ta muốn noi gương.

Để làm việc này, chúng ta, bao giờ, cũng phải bắt đầu bằng đi tìm cái chân lý: Sự thật.

Họ. Những người lúc chống các Đồn điền Cao su Pháp. Họ đã trưng bày cái tệ hại của một tổ chức tìm lợi nhuận trên bóc lột, trên đàn áp, trên những bất công người phu phải chịu đựng, khi người phu làm việc với người Pháp. Những xấu xa. Về một phía.

Chúng ta sẽ so sánh với một diễn dịch trong hoàn cảnh khác. Nhưng sẽ tốt hơn. Nếu cái diễn dịch đó cũng do cùng một nhóm người. Cũng là họ. Họ cho ta một diễn dịch, trước đây. Bây giờ, cũng họ. Họ cho ta một diễn dịch với hoàn cảnh có khác,...

Và sẽ tuyệt hảo. Nếu đó là những diễn dịch có cho cùng các hiện trạng. Dù là nó có, trước và sau. Tốt nhất, trước cũng nó mà sau cũng nó.

Lần này, cũng may cho chúng ta, chuyện sẽ, dễ làm hơn. Dễ thấy rõ, dễ hơn rất nhiều.

Vì có sự giúp sức của nhưng người Cộng sản VN. Lúc họ đã thành công

Thì đây. Trên con đường tranh đấu “cho giai cấp công nhân. Chống lại bất công, đàn áp,” họ giành được thắng lợi. Cái thắng lợi “vinh quang,” “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào,” này là cái giúp ta nhìn ra sự việc.

Bây giờ. Không còn có bọn bóc lột chủ nhân Tây. Người phu cạo mủ cao su được giải phóng. Để phục vụ đất nước. Phục vụ giai cấp.

Chúng ta bây giờ có, cũng là, những người phu cao su đó. Nhưng dưới những mỹ miều của tên gọi, là những đồng chí công nhân can trường lớn lên trong đấu tranh trực tiếp với kẻ thù thực dân, phong kiến. Nay vẫn giữ ngọn cờ đầu trong sứ mạng cả nước tiến lên, v.v... Cái tốt đẹp của phía khác.

Vì sau đó là những diễn dịch đáp ứng cho nhu cầu bức thiết thuộc về “Tình hình mới, Chủ trương mới.” Nhiệm vụ mới,... Hợp với thể hiện của “Quyền làm chủ tập thể, với, nhu cầu chiến lược, trong tình hình cả nước đua nhau thực hiện nghị quyết… (số…) của Đảng. Của phong trào thi đua dâng lên Bác, dâng lên Đảng, ngày nhớ ơn Bác, nhớ ơn Đảng,... Hằng hà sa số các lý do. Để người dân đóng góp công sức của mình cho... nhu cầu các nhà cai trị, bây giờ là họ, thay cho bọn chủ Tây, nêu ra.

Lúc này. Bất bình đẳng nhà cao cửa rộng không còn. Cái đó, chỉ là Hiện tượng (?). Tạm thời. Trong giai đoạn khó khăn cả nước,...

Thay vào là những thi đua “khắc phục khó khăn.” Của toàn dân. Là của thể hiện “quyền làm chủ tập thể,”...(cũng) của người dân.

Thay vì bị bóc lột, bị trấn áp. Dưới roi đòn tàn bạo, người dân phải làm ra sản phẩm cho bọn thực dân chúng hưởng.

Bây giờ. Dưới ánh sáng của Đảng quang vinh, người người thi đua làm “anh hùng lao động,” “làm ngày không đủ; tranh thủ làm đêm.” Và làm thêm giờ nghỉ. Thi đua! Là tự mình. Tham gia. Hăng hái? say mê? Chứ có ai ép buộc?

Mọi khó khăn, như hoàn cảnh sống thiếu thốn, thiếu ăn, thiếu thuốc,... hiện tại. Các khó khăn, chỉ là tạm thời,... Cái mà trước đây bọn Tây thực dân bị chỉ trích, chỉ biết lợi cho chúng. Không đếm xỉa gì đến người phu.

Giữa hai diễn dịch cho cùng một hiện tượng. Kết quả. Trái ngược. Như đường thẳng ghi lại diễn tiến của hai sự việc tiến triển nghịch chiều. Chỉ có hai chiều để đi. Đã đi theo chiều này. Hãy xem. Nếu người dân bị bóc lột. Bị đàn áp. Với các điều kiện làm việc đó, hãy để chuyển động của điểm ghi nhận, của điểm quan sát. Tình trạng của người dân phu, như một hàm số biến thiên về bên trái của đường biểu diễn. Từ điểm gốc O có trị số bằng 0. Khi tăng các cường độ của áp bức, của bất công, Điểm quan sát, thực trạng của người phu cạo mủ Cao su, phải chuyển về bên trái của điểm gốc O. Đi về phía của cái XẤU, cái Không Tốt.

Bất công càng nhiều, bóc lột càng nhiều, dĩ nhiên điểm này phải cách điểm gốc O càng xa, về phía trái Phía của người phu chịu cái Xấu

Khi cũng những người dân đó. Điều kiện làm việc như cũ. E rằng còn khổ hơn (do tình hình mới, nhiệm vụ mới,..), phải làm nhiều hơn (thi đua), phải thiếu thốn hơn (đất nước khó khăn chung.) Được cai quản bởi người thiếu năng lực hơn. Sao có thể đưa cả về chiều bên kia. Chiều của Tốt lành?

Ngược hẳn cái hướng mà lẽ ra khi có nhiều cực khổ, nhiều ép buộc hơn. Thì người dân đó chịu nhiều cái Xấu mà họ không bao giờ muốn hơn chứ. Không phải sao.

Đằng này.

Làm sao kiếm cho ra chữ nghĩa, dưới Xã Hội Chủ nghĩa, bảo người dân của chế độ bị đàn áp, bị bóc lột. Làm gì còn có người bóc lột người dưới chế độ ta. Đố ai tìm được lá Diêu bông...

Hàm số toán học này chỉ biến thiên theo các ẩn số chỉ sự bóc lột, đàn áp. Không có các trị số cho những cái này. Thì khoa toán học cũng đành chịu! Vậy thôi.

Ắt có cái giả. Có cái thật. Trong diễn dịch. Nhất là khi người ta tùy tiện trong định nghĩa

Nhưng để có cái nhìn tương đối rõ như ta tưởng, bây giờ. Đâu dễ cho người dân thời ông Nguyễn Thái Học.

Để làm Người đi tìm học những cái mới, cái hay từ người Pháp, cho lợi ích của đất nước, của dân Nam. Thì còn gì hay bằng, cái đồn điền với bao nhiêu là cơ hội để học. Mà luôn sẵn bên ta. Nó đó, tha hồ mà học.

Có phải là lúc, Ta rời trang sách ngàn thu đọng.

Rồi, thử theo chân một “Tuấn chàng trai đất Việt” nào đó trên con đường vạn dặm tìm cái hay cái đẹp cho quê hương. Trong cái khó khăn của họ. Để còn chọn lựa cho mình. Có cái gì để học từ người xưa. Học lấy cái thất bại, cũng là học. Không chỉ học là học cái thành công.

Dĩ nhiên. Bạn đã là bạn. Xin cứ theo chọn lựa của riêng bạn. Bạn nghĩ Làm Mới VN theo cách nào. Là cách của bạn.

Tôi nhờ cái may. Sống với một lớp người. Những tiền bối, những kiệt hiệt của thời chúng tôi. Những Ký Con, những Phạm Hồng Thái, những Nguyễn Thái Học,... Người cùng nhà, Ba tôi, và những người đương thời của Ba tôi. Họ sống khác các bạn bây giờ. Và họ mong chờ ở một sự đổi mới VN trong hoàn cảnh của họ. Thử biết xem họ làm gì.

Xin theo tôi. Sống với họ. Kiểu “Một ngày trong đời”... của ba tôi.

Một người tôi biết, chuyện của ông. Chuyện thật.

Chuyện dính líu tới những đồn điền người Pháp và ước ao làm mới đất nước... Chuyện tù ngục, chuyện Cộng sản, chuyện Quốc gia,… chuyện khôn, chuyện dại,…

Lại. Lần nữa. Bờ bến xa…

Xin hẹn lại một ngày... để tôi có thể mời bạn…

Ghi chú:

(1)  “Chánh sách học qui các đời Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức,” Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học Sử Yếu, Bộ Giáo dục (VNCH,) Trung Tâm Học liệu xb, Đại Nam in lại, phát hành. tr.342.  

(2)  Việt Nam sử lược, Quyển II, Trần Trọng Kim, Đại Nam xb, tr.240. 

(3)  Lịch sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, Đại Nam xb, tr. 609.

(4)  “Nguyễn Thái Học,...” Tuấn Khanh.online.

(5)   Trích đoạn từ cuốn “Bến Nghé xưa” Sơn Nam: “...Hầu hết các Công ty lớn đều đặt trụ sở chánh ở Pháp, trụ sở thường trực ở Sài gòn. Rừng đất đỏ, đất xám rộn rịp với thị trấn mới lập. Nào đường xá, nhà chợ, trường học, bịnh viện, nhà thờ, khu nhà của phu cao su, của “cặp rằng” lại còn dinh thự đủ tiện nghi cho bọn chủ Pháp. Bịnh rét rừng là “định mạng” dành cho dân phu đa số mộ từ Bắc kỳ.”

Nguồn, “Sài Gòn cách đây một thế kỷ,” Sơn Nam, Thế kỷ 21 số 180 tháng Tư, 2004, tr.105.

Thơ Vô Ngã*. Nguồn, “Ta nâng trang sách ngàn thu đọng,” Từ Mai Trần Duy Bích, báo Viễn Đông, Hoa Kỳ.



SPONSORED LINKS - LIÊN KẾT TÀI TRỢ

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

Advertising