Friday, 16/10/2020 - 06:14:15

Đồn điền của người Pháp và Sài Gòn trong mắt ai


Một đồn điền cao su gần Vĩnh Mộc, hình chụp năm 2006. (Wolfgang Kaehler/ LightRocket via Getty Images)

 

Bài LÝ KHÁNH HỒNG

Phải nói ngay đồn điền cao su là của người Pháp, nhưng với ta nó dính liền với chiến cuộc, với vận mạng nước nhà .

Người Pháp sang nước ta thời điểm này có nhiều loại người.

Cái thời điểm mà các năm cuối cùng của nó, bắt đầu những ngày cáo chung của ảnh hưởng to lớn của người Pháp trên đất nước ta. Lúc tuổi tôi, chỉ mới bảy, tám tuổi. Những năm 1951, 52,...

Ở những năm này, tôi nhìn ra những người Pháp mà ba tôi làm việc cho họ. Họ chỉ là những tư nhân, những thường dân. Không phải là viên chức chính phủ, không phải quân nhân, không phải người của đạo quân xâm lược.

Họ chỉ là người theo chân những đạo quân Pháp xâm lăng, đến đây khai phá trồng trọt, dựng nên các đồn điền để hưởng lợi từ những thâu hoạch trên kết quả của sản xuất ở các đồn điền họ dựng nên.

Nhìn bề ngoài, dễ có cảm tưởng rằng các đồn điện loại này của người Pháp là một mô hình thuần nhất của một tổ chức chuyên nhất, nhằm khai thác thuộc địa Việt Nam cho lợi nhuận tối đa của “mẫu quốc Pháp.” Không có cái hợp nhất đó. Chỉ có nhiều công ty khác nhau, lớn nhỏ khác nhau.

Công ty mà ba tôi cộng tác làm việc có danh xưng LCD, viết tắt của Les Caoutchoucs du Dong Nai.

Biên hòa . Đúng rồi. Chứ còn giấu gì nhau. Đồn điền Cao Su Trảng Bom!

Các đồn điền nổi danh khác, đồn điền Xa Cam, Xa Cát, ở Bình Dương (Thủ Dầu Một). Đồn điền Bình Lộc, Cây Táo, Hàng Gòn, Suối Tre, Suzana ( Dầu Giây) ở Xuân Lộc. Đồn điền Courtenay, Cẩm Mỹ, Cẩm Đường. Đồn điền Bình Ba,.. gần bên Bình Giã, (Bà Rịa) Phước Tuy.

Tất cả, đều là thuộc về các công ty tư nhân khác nhau. Với hai tổ hợp đại diện. Một, mang tên Terre Rouge, cái kia mang tên Terre Noire.

Nhưng đặc biệt cách tổ chức, sắp xếp, cũng như vận hành cho thấy có một sự đồng nhất.

Cả cái hình ảnh bên ngoài. Đồng nhất.

Hãy nói về cái hình ảnh bên ngoài. Từ… các dinh cơ làm nên cái hình ảnh ban đầu, khi mình mới bắt đầu vào “địa giới “ của họ.

Cách bài trí, cái toàn cảnh, cái im lìm, cả cái (gì) di động. Lúc nào, ở đâu. Một cách lạ lùng, như nhau!

Và cái cảm giác không thấy người, mặc dầu biết là có nhiều người, có những người sống rất rộn ràng trong đó. Vào một đồn điền nào cũng sẽ có những cảm nghĩ hệt nhau!?

Bất kể, nó là đồn điền nhỏ ở Trảng Bom hay đồn điền lớn ở Xuân Lộc, ở Xa Cam, ở Cẩm Đường hay Bình Ba, cái Bình Ba mà nhắc tới là luôn gợi nhớ ra Bình Giã, một vùng trù phú bên hông của cái đồn điền này. Bình Giã, một chiến tích của “Di dân lập ấp,” Ngô Đình Diệm, đáng tự hào, và là cái tên được dùng gọi tên một chiến trận khó mà quên trên vết thương cuộc chiến Nam Bắc Việt Nam 1954-1975.

Đâu phải chỉ Bình Giã mới mang cái oan khiên này. Trước 75 có cái đồn điền cao su nào tên của nó lại không dính vào các chiến trận. Toàn những dằng co đẫm máu cạnh bên những rặng cao su.

“…An Lộc địa, máu ghi Chiến sử,

Biệt cách Dù vị quốc vong thân.”

Trên tỉnh lộ 1, con đường đi qua Xa Cam , Xa Cát,... bên mỗi gốc cao su trên con đường này máu tuôn như suối, (như tên một cái suối vùng này mà tôi vẫn thích nhắc tới, Suối Cát) để chỉ chỉ tái lập lại con đường cho thông thương, nối liền An Lộc với Bình Dương, Sài Gòn.

Mà có làm gì khác hơn. Con đường thì phải thông thương, chứ con đường còn để làm gì? Vậy mà nối cho thành thông thương đâu dễ!

Xuân Lộc. Tử Thủ. Trận cuối, Sư Đoàn 18 QLVNCH chặn bước tiến của Bắc quân. Trong bạt ngàn những thân cây cao su. Cây nào của Hàng Gòn, cây nào của Suối Tre, cây nào của Suzana Dầu Giây?

Cây ngã, như thân người ngã xuống. Hàng loạt.

Cây còn, là còn chưa ngã, trơ như người trơ thân. Vẫn hàng hàng, chỉnh tề! Chịu phép.

Từ Xuân Lộc chạy về. Lần rút quân cuối cùng của Sư đoàn 18, cùng Tướng anh hùng Lê minh Đảo. Lần này phải qua ngang Courtenay ở Cẩm Mỹ, Cẩm Đường, để qua được Bình Giã, Bình Ba. ở Bà Rịa. Để còn về Sài Gòn hay Vũng Tàu... Trên con đường tỉnh lộ… len lỏi qua những hàng cây cao su…

Kể cả cao su Long Thành. Long Thành chỉ còn cách Sài Gòn không mấy xa, mươi mười lăm cây số nơi trái ngọt cây lành, du khách nào đi Vũng Tàu về đều ghé qua, nên được coi là đã thoát hiểm? được coi là đã về gần tới đích, điểm cuối đoạn đường trên bản đồ hành quân?

(Có không, điểm cuối cho cuộc chiến???)

Ôi! Những cây cao su và các chiến trận. Trong đời!

Dọc theo các con đường, máu đổ bên các thân cây cao su. Có lúc địch chiếm làm chỗ tấn công. Có lúc ta dùng mong che kín tấm thân. Trên các bước chân trần ai đi cứu viện, không màng đến tấm thân!

Ôi, các cây cao su của các đồn điền. Chẳng là chúng mang cái thuộc tính của một đồn điền, nên mang cái nghiệp dĩ. (Còn người lính?)

Không phải sao?

Vậy chớ, cớ gì đem nhau qua nước bạn, đánh nhau ở Campuchia. Ta và Bắc quân. Lại cứ tìm nhau ở Chup, ở Snoul, những tiếng nói lạ, tên gọi của mấy cái đồn điền cao su của Tây bên đó mà đánh nhau?

Bởi. Đồn điền cao su, một chỗ lý tưởng cho “công đồn đả viện.”

Hẻo lánh vừa đủ.

Lại còn, dDọc theo con đường huyết mạch.

Việt Cộng (kẻ thù của ta) dễ gì bỏ qua.

Hẻo lánh và dọc theo các con đường vận chuyển, một thuộc tính của đồn điền cao su.

Đồn điền cao su, khai thác để có lợi nhuận từ cây cao su một loại cây công kỹ nghệ. Tổ chức, điều động, vận hành nó. Chẳng phải chỉ là, nó khác với cách làm vườn manh múng, nhỏ nhoi của người mình. Mà phải có tính kỹ nghệ, qui mô và có hiệu quả.

Qui mô và hiệu quả, phải để ý ngay từ đầu.

Thổ nhưỡng, vùng nào, loại đất nào? thời tiết nào? năng suất nào? trồng trọt ra sao? khai thác ra sao? để có sản phẩm.

Sản phẩm nào? Thị trường nào? Biến chế hay không? Vận chuyển?

Trả lời cho những câu hỏi trên. Đồn điền cao su đã ở vào các chỗ thích hợp của nó. Dĩ nhiên.

Cái thích hợp cho ý đồ tấn công trong “Công đồn đả viện “ của người Cộng Sản là một trùng hợp. Cái dùng của kẻ ác.

Người khác không ác, những “ông Tây” mang danh “Tây đồn điền” hay “Tây thực dân,” và cả “tây Thuộc địa,” đi làm ăn phương xa. Họ tạo dựng một cơ ngơi vững chắc cho làm ăn có lợi. Và lợi lâu dài.

Người khác cũng không ác, những người dân chúng ta. Vào các năm 1930, 40, 1950... chúng ta thấy gì?

Xin nói ngay. Trong chúng ta đó có tôi. Dù tôi là tôi của những năm tuổi nhỏ. Chập chững đi và nhìn. Không được như Thái Hiền vững tin hát bài tuổi mười ba tuổi mười bốn. Tôi chỉ mới sáu bảy tuổi. Đã bị “Tây rượt chạy tóe khói.”

Vì tôi ở gần, gần cạnh bên cái ông tây rượt tôi.

... Một buổi sáng. Rảnh rang.

Tôi tuổi đó lúc nào mà hổng rảnh….

Lửng thửng bước xuống ba bốn cái từng cấp của nhà mình. Xuống sân thấp dẫm lên vài chiếc lá, bước hăm hở trên cái sân rộng,...

Hăm hở qua.

Đi qua cái cổng nối liền vào cái dậu rào được xén tươm tất và quá ngăn nắp, nên ngăn cách. Qua khỏi nó. Là tôi bước vào đời.

Tôi đã ở bên ngoài căn nhà tôi. Thế giới như rộng mở.

Nhưng... ngoài tôi không còn ai.

Cái tịch lặng và vắng vẻ làm tôi buồn, cái buồn “ăn theo” nỗi buồn “không biết vì sao tôi buồn.” (Hôm nay, trời nhẹ lên cao. Tôi buồn. Chẳng hiểu vì sao tôi buồn . Thơ… Xuân Diệu.) Thế giới có rộng mở đến đâu cũng chỉ làm tôi, thằng bé con, thấy mình... (buồn) một mình.

Chẳng có ai gần bên để còn mong họ chơi với mình. Đành phải thơ thẩn một mình.

Thơ thẩn… thì có dẫn đến đâu, ai mà biết.

Một lúc nào đó, có những tiếng nói lớn vọng vào tai làm tôi phải ngó lại.

Nhưng chả cần ngó lại để biết chuyện gì xảy ra. Những tiếng nói,...

“Et- alors. Le petit garcon. Descends! Toi! Descend! Tout de suite…”

(Ê! Thằng nhỏ, xuống, xuống mau, xuống ngay,...)

Nghe những lời đó. Không phải ngó ngàng gì nữa. Tôi biết ngay phải làm gì!

Là bung mình lên, chạy. Chạy ngay. Không un, deux (một, hai) gì hết. Chỉ chạy.

Trước đây, có đứa trẻ nào vô tình ngồi trên cái bàn viết đó là có ngay bóng dáng người đó xuất hiện.

Bị ông ta tóm là phải trả lời câu hỏi, “Comment t’appelles-tu? Dis moi. Qui est ton père? Comment s'appelle -t-il?”

(Mày tên gì? Tên của mày? Bố mày là ai, tên gì?)

Là chết đòn. Ông ta biết tên mình. Biết bố mình. Sao khỏi được cái họa bố của mình bị trừng phạt, cho ông phó vui!

Cái ông phó Tây, người có tên “thằng Tây cổ đỏ.” Chả ai thấy ông ấy làm gì ngoài chuyện ông ấy rượt mấy đứa tôi về cái tội dám leo ngồi trên cái bàn viết đó.

Mà cái bàn ấy nào phải nó thuộc về ông ta!

Nó là một cái bàn lẻ loi. Nằm trơ trọi một mình trên cái nền ciment tô láng lẩy của cái “Chợ Điểm” này. Nếu nói tới quyền chi dụng nó, phải nói nó thuộc quyền của Ba tôi. (Un point final. Chấm hết! Vous n’avez rien d’ici! Monsieur. Ông chả có cái gì ở đây cả! Ông ơi!)

Cái bàn, nằm chả đúng chỗ cho công việc gì, ngoài việc mà Ba tôi làm hàng ngày. Điểm danh và kiểm lại số công nhân hiện diện cho công tác trong ngày, ở cái nơi gọi là chợ điểm, người phải dùng tới nó. Thì dĩ nhiên, chỉ trên cái bàn ấy, trước khi ra lệnh xuất quân.

Công việc của Ba tôi, hàng ngày, bắt đầu như vậy. Kiểm điểm người. Tiến hành công tác.

Cái công tác sản xuất thành phẩm, dưới dạng thô của sản phẩm. Mủ nước, người ta gọi như thế.

Ba tôi có cái trách nhiệm của người đầu tiên trong dây chuyền sản xuất của công ty.

Cái dây chuyền sản xuất này được bắt đầu ở cái nơi chính yếu và dính liền với phương tiện sản xuất. Những rừng cây cao su và những con người bên các thân cây đó là một mảng lớn của cả cái làm nên cơ cấu công ty.

Bộ phận sản xuất thành phẩm thô, ban đầu, với cây và người.

Tôi đã sống trong cái nơi đang được nói tới này. Cái nơi tôi đã vô cùng thương mến.

Công ty còn một mảng khác, bộ phận biến chế thành phẩm, bộ phận văn phòng, cùng những đơn vị tiếp liệu, vận chuyển, tiện nghi, công ích, v.v.. Kết hợp của những bộ phận này trong một quần thể làm nên bộ mặt của công ty.

Cái bộ mặt làm tôi (và cả những người khác) thấy mình như lọt vào thế giới thần tiên.

Không phải chỉ lần đầu. Lần đầu, thì còn gì phải nói. Mà như là mỗi khi đi xa về gặp lại! Cái cảm giác ở nơi tiên cảnh!

Cho đến bây giờ, những năm 2000, ở cái tuổi già, già đến độ không thể đếm tuổi được, cháu nội tôi không muốn đếm, nó bèn liệt tôi vào cái tuổi hết biết của nó, ông 99 tuổi rồi! Vào cái tuổi này...

Mà cũng chẳng phải riêng gì tôi đâu.

Có dịp nói chuyện cũ, nhân nhắc lại thời tuổi nhỏ, tôi có được sự đồng cảm của một người mà tôi “bắt quàng làm họ.”  Ông Ngoại của mấy đứa cháu Nội của tôi!

Có gì mà rắc rối. Người xa lạ trở nên người thân khi có hai con người “đem lòng nhớ thương,” khi con trai tôi “phải lòng” mẹ của các cháu tôi.

Người chia sẻ với tôi cảm tưởng này là “Anh Sui” của chúng tôi. Làm sao mà chúng tôi có nhiều cái đồng điệu đến vậy.

Nào là “Con gái anh,” và, rồi, “Con dâu tôi” đứa nào cũng giỏi giang. Có ai mà hơn nổi mẹ của các cháu tôi.

Nào là, “Cháu nội anh” thôi thì thông minh, thôi đủ thứ... không ai bằng. Có chăng là mấy “cháu Ngoại tôi” may ra còn theo kịp, cũng chỉ chúng nó.

Còn cháu nào hơn nỗi cháu mình! Cháu của chúng tôi!

Chẳng qua, hai chúng tôi, không dấu gì, khi khổng khi không, bỗng đều có dịp. Ở hai nơi khác nhau, cả hai chúng tôi đều có dịp đứng trước một chỉ dấu của văn minh, một công trình kiến trúc mang tính nghệ thuật.

Và hơn cả, nó bày ra trước mắt một cuộc sống mới, khác, và rất hài hòa.

Đã bảo các đồn điền cao su người Pháp đều luôn chọn nơi hẻo lánh.

Nhưng giữa rừng già thay vì “có thấy gì đâu” lại là cả một quần thể, xây cất, đặt để, sắp xếp, tỉa, trồng. Lạ mà hài hòa. Nó hiện ra. Bảo sao không mê.

Không mê sao cả thế giới, trong thế kỷ 20, đều tắm tắc với Sài Gòn “ Hòn Ngọc Viễn Đông?” Cũng chỉ vì kiến trúc và văn minh Pháp.

Về mấy cái rắc rối này có hai vị chúng tôi có thể nêu ra, làm chứng cho các điều đã nói.

Nhắc chuyện xưa, tích cũ. Sao khỏi có ông Sơn Nam.

Trong một bài viết nói về cây cao su và Sài Gòn, ông nhấn mạnh,

“... Rừng đất đỏ, đất xám rộn rịp với thị trấn mới lập (sic). Nào đường xá, nhà chợ (sic) trường học, bệnh viện, nhà thờ, khu nhà của phu cao su, của ‘cặp rằng’ lại còn dinh thự đầy đủ tiện nghi (?) dành cho bọn chủ Pháp. Bịnh rét rừng là ‘định mạng’ dành cho dân phu (Sic) đa số mộ từ Bắc kỳ.” (1)

Bàn về kiến trúc Pháp. Một vị khác, với nhiều tâm tình.

“... Nhưng đi giữa Paris chúng ta sẽ luôn có cảm giác gặp gỡ lại Sài Gòn của chúng ta, cảm giác về một cái gì đó thân quen cứ bất chợt xuất hiện trong tâm hồn nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Cái đó là cái gì? Sau nhiều ngày lang thang ở thủ đô nước Pháp, tôi đã tìm ra điều ấy, đó là về phương diện kiến trúc thành phố Sài Gòn chính là anh em cùng cha của thành phố Paris, và người cha đó không ai khác hơn là ngành kiến trúc Pháp. So với Paris, Sài gòn quá nhỏ bé, nhưng cái nét giống nhau của những đứa con cùng cha thì không thể chối vào đâu được. Sài Gòn đẹp vì được xây cất theo một chủ đề thuần nhất, không phải pha trộn vá víu với những yếu tố khác, thuộc một nền văn hóa khác. Không có thuận lợi đó, hẳn nó khó có danh hiệu ‘Hòn Ngọc Viễn Đông.’” (2)

Cái giá trị mà khi kiến trúc Pháp được dùng và làm nên danh tiếng cho thành phố Sài Gòn sẽ có giá trị ra sao?

Khi cũng nó, kiến trúc Pháp cho một chỗ đèo heo hút gió ở Trảng Bom của tôi. Ở Dầu Dây, Suối Tre thuộc Xuân Lộc, ở Xa Trạch, Xa Cam thuộc về Hớn Quản, Chơn Thành. Ở đâu cũng cái nét đẹp đó! Bảo sao không mê!

Người Pháp có cái lạ. Họ yêu nền kiến trúc danh tiếng như cồn của họ, đến độ đi đến đâu họ cũng đều xây cất. Có đi Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Hà Nội, Nha Trang, v.v. cả đến đi đến cái lầu ông hoàng ở Phan Thiết, chỗ nhớ tới Hàn Mặc Tử, nhà thơ và căn bệnh quái ác của ông. Cũng là nhớ tới xây cất của Tây.

Trở về với cái mê mẩn của anh em tôi. Cũng phải nhắc lại. Phải chăng chỉ có nét đẹp làm chúng tôi mê mẩn? Cái đẹp. Cái bắt mắt nhất. Phải là cái đầu tiên. Thu hút cái chú ý của ta. Cái đẹp.

Đẹp ra sao? Đẹp. Khác với những gì chúng ta vẫn có. Ở đây, những ngôi nhà mái ngói, đỏ, tường vôi.

Điểm xuyết quanh chúng, những thân cây bề thế, đủ lớn, đủ cao, và khéo chọn . Chọn giống cây để tạo dáng, chọn đúng chỗ để trồng. Trên những mảng tường vôi và ngói đỏ xếp thành khối, những thân cây, thường là loài phượng vĩ, tạo thêm điểm nhấn, vạch mềm. Và tạo cả những “đốm lửa Hạ,” ven trời cùng với tiếng ve sầu, mùa phượng nở.

Ở đó, trên cái nền cỏ, bón tưới, xanh tươi, cắt xén ngăn nắp có những con đường trải nhựa. Màu đen, đen của văn minh nhựa đường. Như những đường viền, thẳng mà cũng chẳng phải bao giờ cũng cứ thẳng, không phải không có lúc cong cong... những đường kỷ hà toán học. Hay cong cong của “chân,.... em mang đôi dép cong cong,..” thơ Nguyễn Nhược Pháp! Một tưởng tượng kết nối những cỏ, cỏ xanh, xanh mềm, và chân... em,... rất đẹp (rất mềm)!

Đẹp! Nhưng giữa vùng hiu quạnh, cái đẹp đó. Cái đẹp “cỏ xén hoa trồng” liệu có ổn không?

Với những người,

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;

Họ là những người,

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,

Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi. (3)

Đừng mong có họ.

Còn có nữa, những người nhìn vào cái mà chúng ta đang chiêm ngưỡng đây. Họ thấy nơi đó là những mục tiêu phải đánh đổ, đánh cho gục đi, cho sập xuống.

Họ nhìn qua đó thấy ra những “dinh thự,” những “tiện nghi” (chỉ) dành cho đám chủ nhân.

Người, họ chỉ gặp “phu,” và “cặp rằng,” “giai cấp.”

Cảnh sống, chỉ những bất công mang tính “định mạng” thua thiệt. Sốt rét là chỉ dành cho người phu được mộ vào làm việc, những người Bắc kỳ. Toàn những hận thù,chia rẽ,.áp bức như Sơn Nam, (đã dẩn.)

Cũng cảnh quang trên. Có nhiều người nhìn ra cái khía cạnh khác. Cũng hấp dẫn. Hấp dẫn lắm. Với họ, một địa điểm đáng chú ý, cho tổ chức du lịch.

Nhà nước ta có bao giờ quên cho được các dịp làm ra tiền cho họ. Bởi vậy không ai còn lạ gì khi thấy ở những vùng khỉ ho cò gáy hàng đoàn xe chở hết du khách tới học sinh. “Tham quan di tích” về cái gọi là những bóc lột của bọn thực dân...Tây.

Riêng tôi, muốn thưa rằng, khi tôi khoe với quí vị cái hình ảnh của một vùng tiên cảnh tôi nhìn thấy, nó chợt thoáng hiện. Ngay khi tôi nhìn thấy cảnh trí này, tôi mê mẩn sống, sống theo dòng chảy của những gì tôi thấy được qua hình ảnh.

Tôi đã thưa trước rằng tôi như Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai.

Biết gì về Thiên Thai. Bày đặt.

Tôi không hề biết về Thiên Thai. Nhận với quí vị điều đó.

Chẳng qua là học đòi làm văn chương.

Lại thú nhận một điều khác nữa, là ai đọc bài tôi viết cũng đều chê tôi. (Tôi) viết văn như c... Là vì tôi viết rất khác mọi người. Tôi viết như tôi ngồi nói chuyện với quí vị. Khơi khơi. Không làm văn chương chữ nghĩa gì sất. Lần này, vì có dính tới ông già...

Nên thay vì chỉ nói là bị cuốn theo... cuộc sống mà cái cảnh trí trước mặt, với những lạ lẫm nó mang đến. Những cái,... Có lẽ, là, một chút văn minh, một chút lối sống, có cái lạ của nó. Những cái lạ,... ngay như cách bài trí, bố cục cảnh quang,.. cũng lạ.

Để thấy được những khác biệt đó. Như tiên cảnh. Có chút nào tâm hồn tôi không?

Bắt chước, chắc không cần có tâm hồn. Chi cho rắc rối.

Nhưng sống với những ước mơ. Sao có thể thiếu tâm hồn. Sao không là nhập tiên cảnh.

Ngay như đi giữa Paris, nhà văn Phạm Xuân Đài, đi mà gặp lại Sài gòn của ông. “Tôi khám phá ra là Paris, có một vài nơi rất giống Sài Gòn. Một buổi chiều trời mưa, tôi che dù đi ở một phố nào tôi không nhớ, bỗng nhiên tôi thấy y hệt như tôi đang đứng ở chỗ ngã tư Lê Thánh Tôn với đường Tự Do, ngay trước quán La Pagode.. Ông cho là... có lẽ vì trời mưa, có lẽ vì tôi đang đi bộ, và cái nỗi niềm ‘phố cũ hè xưa’ đang cơn thấm thía. Nơi đây không những tôi bắt gặp Sài Gòn mà còn bắt gặp chính tôi, gã thiếu niên của cuối thập niên 50, chàng thanh niên của thập niên 60, trong một buổi chiều mưa đứng giữa Sài gòn...

Rồi ông hỏi,

….Không biết một kẻ lớn lên tại thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 1975, hoặc một người ngoài Bắc vào sống tại đó cũng thời điểm ấy, nếu có dịp đi Paris thì có nhận thấy thành phố Hồ Chí Minh của họ nhiều điểm giống Paris như tôi thấy không? Không chắc. Sự giống nhau giữa hai đô thị phải vừa ở kiểu mẫu kiến trúc, vừa ở khí hậu văn hóa…” (4)

Tôi cũng nghĩ như ông, Không chắc. (Lẽ ra tôi viết: Chắc là, không. Chắc chắn là không. Period. Chấm hết! Một cách chắc nịch.)

Nhưng tôi đang ở dòng mạch viết của một nhà văn hóa, hiền từ rất mực. Đành phải theo dòng,...

Liệu một người nào. Sống ở thành phố. (“thành phố,” cái lối nói hà tiện chữ của đồng bào tôi bên nhà. “Tôi không có tâm trạng!” (với nó.) Nhưng cứ phải dính vô! (???) ). Ý là họ đang ở giữa Sài Gòn của ta. Mà văn hóa sống, khác. Khác như “SG vs HN.” diễn nôm, SG versus HN, là Sài Gòn đối nghịch với Hà nội, hay, SG khác xa, so với HN,... mà…” nếu có dịp đi Paris,... hỏi như ông đã hỏi. Câu trả lời của tôi. Vẫn là,...

Không chắc!

Tôi e rằng. Giữa Sài Gòn, họ, như Trần Dần, về giữa Hà Nội, ngày đổi chủ, “bước đi không thấy phố, thấy nhà,...”

Mà. Giữa Paris, giống với khúc đường Lê Thánh Tôn, Tự Do và cái thiên đường (mù) La Pagode của nhà văn miền Nam, thấy rất giống nhau; họ lại mong chờ những “hạt mưa sa trên màu cờ đỏ!” (Thơ Trần Dần)

Bằng không. Sao Trịnh công Sơn, qua hình ảnh nào mà có “Đàn bò vào thành phố?” Hoặc cái gì làm cho chúng ta có các câu nói, như câu ông bà ta quen... “như Mán về thành.”

Có nơi, có chốn. Khác chứ!

Đến ăn còn phải trông nồi, ngồi trông hướng cơ mà.

Cái văn hóa sống. Chính cái văn hóa sống. Nó mới làm nên cái cách sống của một nơi, một chốn nào. Để còn so với sánh.

Nên, nếu Thiên Thai, mà văn hóa sống là “chúng em dâng hai chàng trái đào tiên” (Văn Cao) thì không có tôi.

Bằng với lối sống, đồn điền cao su người Pháp được dùng như bước khởi đầu của ước mong văn minh hóa đất nước, làm mới đời sống người dân, đẩy nhanh nền kinh tế nước nhà,... Đó mới là….

Về điểm này. Tôi may mắn có ngay cho tôi một gương tốt trước mắt. Ba tôi và con đường của ông.

Xin hẹn lại, Bờ bến xa,... xin hẹn lại một ngày,....

*
 

Ghi chú:

(1) Trích đoạn từ cuốn “ Bến Nghé Xưa “ Sơn Nam: “... Hầu hết các Công ty lớn đều đặt trụ sở chánh ở Pháp, trụ sở thường trực ở Sài Gòn. Rừng đất đỏ, đất xám rộn rịp với thị trấn mới lập. Nào đường xá, nhà chợ, trường học, bịnh viện, nhà thờ, khu nhà của phu cao su, của “cặp rằng “ lại còn dinh thự đủ tiện nghi cho bọn chủ Pháp. Bịnh rét rừng là “định mạng “ dành cho dân phu đa số mộ từ Bắc kỳ.”

Nguồn, “ Sài Gòn cách đây một thế kỷ, “Sơn Nam, Thế kỷ 21 số 180 tháng Tư, 2004, tr.105.

(2) “Bài thuyết trình không đọc,” Phạm Xuân Đài, Thế kỷ 21 số 180 tháng Tư, 2004, tr.24.

(3) “Nhớ rừng,” Thế Lữ. Thơ.

(4) “Đi Tây,” Phạm Xuân Đài, Thế Kỷ 21,số 100, tháng Tám, 1997.

 

 

SPONSORED LINKS - LIÊN KẾT TÀI TRỢ

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

Advertising