Friday, 21/08/2015 - 10:20:22

Đền thờ Đào Duy Từ (kỳ 1)

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Qua tiểu sử, ta thấy ngay Đào Duy Từ bất mãn với chế độ Đàng Ngoài và mong mỏi phụng sự Nam Hà, do đó tác phẩm của ông bao hàm tư tưởng của một người quyết đem tài mình bồi đắp giang sơn Miền Nam.
Qua thơ văn, Đào Duy Từ đã bộc lộ tâm sự mình và nói lên quyết tâm của người Nho sĩ dốc lòng phục vụ chế độ mình đã chọn.
Năm 1634, ông qua đời, để lại các tác phẩm:
- Hổ tướng xu cơ tập (luận về binh pháp)
- Ngọa Long Cương
- Tư Dung Vãn
Hai tác phẩm quan trọng của Đào Duy Từ: Ngọa Long Cương và Tư Dung Vãn đều viết theo thể lục bát trường thiên. Ngọa Long Cương dài 136 câu đi luôn một mạch, Tư Dung Vãn, dài 336 câu, có xen lẫn những bài ca, những khúc ngâm, hoặc thơ Đường Luật, tùy theo dòng tư tưởng khi phóng khoáng, lúc nghiêm trang...
Nhìn chung Ngọa Long Cương xuất hiện lúc tác giả còn trong thời ẩn dật nuôi chí lớn. Tư Dung Vãn được sáng tác lúc danh ước đã đạt nên phản chiếu tình hình xã hội Nam Hà cũng như có rất nhiều câu ca tụng các Chúa Nguyễn.Ông biết giữ khí tiết ẩn nhẫn, và xuất hiện đúng thời như Khổng Minh thuở trước:
“Nhân tài tuy khắp nơi dùng
Đua trên đường lợi, áng công vội giành
Nào ai lấy đạo giữ mình
Kẻ đua tới Ngụy người giành về Ngô
Nam Dương có sĩ ẩn nho.
Khổng Minh là chữ, trượng phu khác loài.”
(Ngọa Long Cương Ngâm)

Đình Lạc Giao (Trần Công Nhung/Viễn Đông)



Trong thời gian chưa được thi thố tài năng, ông vui thú cảnh thiên nhiên, ca phong, vịnh nguyệt hay vui với công việc đồng áng nông gia:
“Khúc cầm cổ cẩm cung xoang
Ca ngâm Lương Phủ đạo càng hứng mau.
Của kho vô tận xiết đâu
Thú vui thuở thế ai dầu mặc ai
Thanh nhàn, dưỡng tánh hôm mai
Ghềnh trong cuốc nguyệt, bãi ngoài cày mây”
(Ngọa Long Cương Ngâm)
Khi đã có chốn nương thân vững chắc Đào Duy Từ mới dần dà lộ rõ chí hướng phò vua giúp nước nung nấu suốt mấy chục năm cho bố vợ biết. Ông đưa tác phẩm "Ngọa Long Cương" của mình gồm 136 câu lục bát, cho Trần Đức Hòa xem. Nội dung bài thơ chính là nỗi lòng của Đào Duy Từ, tự ví mình như Gia Cát Lượng.(1) Nỗi lòng đó của Duy Từ được thể hiện rõ ở đoạn kết:
Chốn này thiên hạ đã dùng
Ắt là cũng có Ngọa Long ra đời
Chúa hay dùng đặng tôi tài
Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên

Án thờ trong Thái miếu (Trần Công Nhung/Viễn Đông)




Khám Lý Trần Đức Hòa xem đi xem lại bài ''Ngọa Long Cương'' của con rể, thấy văn từ khoáng đạt, điển tích tinh thông, ý chí mạnh mẽ, hoài bão lớn lao, đã tấm tắc khen. Tương truyền, khi làm thầy dạy học ở nhà quan Khám Lý Trần Đức Hòa, Đào Duy Từ thường ngâm bài thơ này. Chính nhờ bài thơ chất chứa tâm huyết này mà ông đã được đến với chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Sử chép lại rằng, trước lúc tiến cử ông, Trần Đức Hòa đã đem dâng bài thơ lên chúa. Chúa xem thấy lạ, lập tức cho mời Đào Duy Từ.
Bài Tư Dung Vãn gồm 336 câu thơ lục bát xen kẽ bảy bài thơ thể ngũ ngôn, thất ngôn tứ tuyệt cũng là một áng văn hay, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên nơi cửa biển Tư Dung(2) và cảnh sống thanh bình của vùng đất Phương Nam, nơi có chúa hiền tài giỏi. Ngoài ra tương truyền rằng vở tuồng Sơn Hậu cũng như các điệu múa Hoa Đăng, Nữ tướng xuất quân, cũng đều do Đào Duy Từ sáng tác.
Bấy giờ chúa Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (16l3- l635) đang có ý định kén chọn nhân tài, để dựng nghiệp lớn, nên khi xem xong bài vãn của Đào Duy Từ đã rất tâm đắc, bèn lệnh cho Khám Lý Trần Đức Hòa dẫn ngay người con rể vào gặp Chúa.

Thái miếu (Trần Công Nhung/Viễn Đông)



Gia đình nhà vợ vội may sắm quần áo, khăn mũ hợp nghi thức để Duy Từ mặc vào chầu cho thật chỉnh tề, nhưng Duy Từ nhất mực từ chối, viện lẽ rằng mình không dám dùng, vì chưa có chức tước!
Trước buổi tiếp, Sãi Vương muốn thử tư cách Đào Duy Từ, nên Chúa mặc y phục xuềnh xoàng, cầm gậy đứng trước cửa, thái độ lơ đãng, như chờ một kẻ hầu nào đấy. Từ xa, Đào Duy Từ đã nhìn thấy vẻ thờ ơ của Chúa, bèn giả tảng hỏi bố vợ:
- Người kia là ai vậy, thưa cha?
Trần Đức Hòa sợ hãi, trả lời:
- Ấy chết! Sao con dám hỏi vậy? Vương thượng đấy, Người đứng chờ, con mau mau đến bái lạy!
Duy Từ nghe bố vợ nói, chỉ cười nhạt rồi quay lại chứ không đi nữa. Khám Lý Trần đi trước, ngoảnh lại thấy con rể bỏ về, sợ quá, liền níu lại quở trách:
- Con làm thế này thì tội phạm thượng sẽ trút lên đầu cha cả thôi!
Duy Từ đáp:
- Thưa cha, vì con thấy Chúa đang trong tư thế đi dạo với các cung tần mỹ nữ, chứ không có nghi lễ gì gọi là tiếp đón khách hiền. Nếu con lạy chào tất phạm vào tội khinh vua.
Nghe con rể nói vậy, ông bố vợ lại càng thất kinh, cáu kỉnh cầm tay Duy Từ bắt trở lại ngay, để lạy chào Chúa, không được để Chúa phải chờ. Nhưng Duy Từ vẫn dùng dằng không chịu nghe lời.
Từ xa, Sãi Vương đã để ý quan sát thấy tất cả, biết Đào Duy Từ là kẻ tài giỏi thực, tính khí khái, chứ không giống những bọn tầm thường, chỉ cốt quỵ lụy, được ra mắt Chúa, hòng tiến thân kiếm chút bổng lộc, chức tước mà thôi. Chúa bèn quay vào nội phủ, thay đổi áo quần và bảo thái giám đem áo mũ ban cho Duy Từ, rồi mời vào sảnh đường tiếp kiến.

Cổng đình (Trần Công Nhung/Viễn Đông)



Kể từ buổi đó, Đào Duy Từ được chúa Sãi Vương tin yêu, trọng vọng, tôn làm quân sư, luôn ở cạnh Chúa để bàn bạc việc quốc gia đại sự. Ông được phong chức Tán trị, tước Lộc Khê hầu, nên người đời vẫn quen gọi ông là Lộc Khê.
Chỉ có tám năm đến với chúa Nguyễn, một khoảng thời gian không dài mà sự nghiệp Đào Duy Từ được các vua Nguyễn sau này xếp vào hàng đệ nhất khai quốc công thần. Thế mới biết tài năng khi được phát hiện và trọng dụng thì có ích biết dường nào.(3) Tất nhiên sự nghiệp rực rỡ của Đào Duy Từ không thể tách rời sự anh minh sáng suốt dụng người của chúa Sãi Vương, mặt khác, thành công của Chúa trong việc biến các ý tưởng của cha thành hiện thực có phần đóng góp xuất sắc của Đào Duy Từ.
Hai trăm năm sau Nguyễn Hoàng, người Việt đã lập nghiệp tới tận chót mũi Cà Mau. Dù có những hạn chế khó tránh khỏi trong xã hội phong kiến, ta thấy sự nghiệp mở cõi của nhà Nguyễn thật lớn lao, trong đó sự xuất hiện đúng lúc của Đào Duy Từ như vì sao Bắc Đẩu, như ngọn đuốc soi đường.
Đến năm Minh Mệnh 17 (1836), triều đình lại sai dân sở tại sửa chữa lăng mộ cho ông. Năm 1932, vua Bảo Đại sắc phong Đào Duy Từ làm Thần Hoàng làng Lạc Giao, đất "Hoàng triều cương thổ" ở Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk.
Năm Gia Long thứ tư (1805) nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp hàng đầu, được thờ ở nhà Thái Miếu,(4) được cấp 15 mẫu tự điền và sáu người trông coi phần mộ.

(còn tiếp)
Trần Công Nhung (2015)

(1) Nhà quân sự, chính trị nổi tiếng bên Trung Quốc, vì chưa được thi thố tài năng, nên còn ẩn náu ở chốn Ngọa Long
(2). Còn gọi cưả Tư Hiền nơi phá Tam Giang đổ ra biển (huyện Phú Lộc Thừa Thiên Huế)
(3) Xem Lũy Thầy kỳ trước.
(4) Thái Tổ Miếu (tức Thái Miếu) là miếu thờ các vị chúa Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.
Miếu thờ từ chúa Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long thứ 3 (1804) ở góc Đông Nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía Tây Nam.
Trước sân Thái Miếu có gác Tuy Thành (gác Mục Thanh), 3 tầng, hình thức tương tự như gác Hiển Lâm ở Thế Miếu. Hai bên gác Tuy Thành có tường ngắn, trên có lầu chuông, lầu trống, dưới trổ cửa vòm. Phía nam của gác Tuy Thành, 2 bên có nhà Tả Vu, Hữu Vu. Toàn bộ khu vực Thái Miếu có tường gạch bao bọc, trổ 5 cửa ra các phía. Các án thờ của chúa Nguyễn đều đặt trong tòa điện chính, bài vị phối thờ các công thần đặt ở Tả Vu và Hữu Vu. Lễ tế tổ chức mỗi năm 5 lần vào các tháng manh xuân, manh hạ, mạnh thu, mạnh đông và quý đông.
Phục dựng
Trong kháng chiến chống Pháp đầu năm 1947, khu vực Thái Miếu bị Việt Minh thiêu hủy gần như hoàn toàn. Năm 1971-1972, hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc đã quyên góp và dựng lại 1 tòa nhà 5 gian trên nền cũ ngôi điện chính để làm nơi thờ tự các chúa Nguyễn.
Các công thần được phối thờ
Tả vu
1. Tôn nhơn phủ Tôn nhân lệnh Nghĩa Hưng quận vương Tôn Thất Khê (15391616)
2. Tôn nhơn phủ Tả tôn chánh Quốc Oai công Tôn Thất Hiệp (1653-1675)
3. Tôn nhơn phủ Hữu tôn chánh Tương Dương quận vương Tôn Thất Hạo (?-?)
4. Tôn nhơn phủ Hữu tôn chánh Hải Đông quận vương Tôn Thất Đồng (?-1777).
Hữu vu
1. Thái sư Uy quốc công Nguyễn Ư Kỷ (?-?)
2. Thái sư Hoằng quốc công Đào Duy Từ (1572-1634)
3. Thái bảo Anh quốc công Nguyễn Hữu Tiến (?-1666)
4. Thái phó Tĩnh quốc công Nguyễn Hữu Dật (?-1681)
5. Thiếu phó Vĩnh An hầu Nguyễn Hữu Cảnh (?-1700)
6. Thái bảo Thăng Bình quận công Nguyễn Cửu Dật (?-1775)
7. Hiệp biện Đại học sĩ Tân Minh hầu Nguyễn Cư Trinh (?-1767).

Liên lạc với tác giả qua email: trannhungcong46@gmail.com

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

Bình luận
Nguyễn văn Sơn đã nói: Cám ơn tác giả đã bỏ công sưu tầm. Bài này rất hữu ích. Xin tiếp tục