Friday, 05/08/2016 - 11:40:39

Cửa biển Tư Dung (tiếp bài cửa Tư Hiền)

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Am ngói là một am xây nhỏ như am cô hồn bên đường. Tôi đi tìm am đá. Tìm một lúc không thấy gì, phải trở lại nhờ chủ quán chỉ dẫn. Thì ra am đá nằm sâu trong một hóc đá miệng thấp chưa tới 1 mét, phải cúi rạp người mới chun vô được. Trong am có bát nhang, có quả bồng hoa quả, có một tượng voi đá nằm. Đây là nơi ngư dân làm lễ trước khi dong buồm ra khơi.

Bản đồ từ vệ tinh (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Cửa biển Tư Dung cũng phát xuất từ một chuyện thần thoại:

“Ngày xửa ngày xưa, có một vị Thần gánh đất để ngăn sông đắp núi. Một hôm Thần đang gánh đất thì bỗng nhiên đòn gánh bị gãy làm hai, để lại hai khối đất khổng lồ khoảng cách nhau hơn 1 km, đó chính là núi Linh Thái và núi Túy Vân ngày nay thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.”

Am đá (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Cửa Tư Dung là một cửa biển thiên tạo, do hai ngọn núi Linh Thái Sơn và Tuý Vân Sơn tạo nên.
Sau năm 1975, nhiều lần con người đã ra tay nạo vét, nhưng chỉ qua đêm là cửa lại bị cát bồi lấp. Rất nhiều lần cửa biển này tự đóng, tự mở, đó là ý muốn nhắc nhở rằng, việc làm này là ý Trời đã định chứ con người không quyền gì thay đổi được.
“Thuận Thiên giã tồn
Nghịch Thiên giã vong”
(Theo Trời (thiên nhiên) thì sống còn. Chống Trời thì diệt vong) (1)
Quả thật con người không thể tài nào hiểu được điều kỳ bí của cửa biển Tư Dung.
Nói đến cửa biển Tư Dung không thể không nhắc đến Đào Duy Từ, một danh nhân thời các chúa Nguyễn, người đã hết lời ca ngợi cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ của cửa biển này trong bài thơ lục bát dài tới 332 câu, tựa đề “Tư Dung vãn”.

 

Am ngói (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Cõi Nam từ định phong cương,
Thành đồng chống vững âu vàng đặt an.
Trải xem mấy chốn hồ san,
Hoa tươi cỏ tốt đòi ngàn gấm phong.
Khéo ưa thay cảnh Tư Dung,
Cửa thâu bốn bể, nước thông trăm ngòi.
Trên trời tinh tú phân ngôi,
Đêm treo thỏ bạc, ngày soi ác vàng.
Dưới trời sơn thuỷ khác thường,
Động Đình ấy nước, Thái Hàng kìa non.

(Trích đoạn mở đầu)
Đầu năm Gia Long (năm 1811), do có lụt lớn, cửa biển Tư Dung bị lấp cạn dần, đồng thời hình thành một cửa biển mới là cửa biển Tư Hiền hiện nay. Đến năm 1823, cửa Tư Dung cạn và hẹp đến mức thuyền lớn không đi qua được và người dân sống hai bên cửa có thể lội bộ qua lại. Năm 1844 có lụt lớn, cửa bị lở rồi lại bồi...
Chuyện lở, bồi, dịch chuyển cửa biển Tư Dung – Tư Hiền, vua Minh Mạng trong tập thơ ký sự về cửa biển Tư Dung, đã viết:

“... dòng sông mở ra hay lấp lại là do tự thiên công, khó trông cậy ở sức người, huống chi nguyên ủy cửa biển này có quan hệ đến nước nhà, không phải như các cửa biển khác. Ngược dòng thời gian mà nhận xét, bản triều năm giáp ngọ (1774), vận nước gặp bước gian nan, binh Trịnh đến xâm phạm, thì vua Duệ Tông bản triều (Nguyễn Phúc Thuần) theo cảng ấy đi vào Nam. Hoàng khảo ta là Thế tổ Cao Hoàng Đế (Nguyễn Phúc Ánh) khi ấy mới mười ba tuổi cũng đồng thời tháp tùng theo chuyến ấy.
“Qua năm Tân Dậu (1801), đại binh khắc phục Thần kinh, cũng theo cửa này đi vào, mà lúc ấy trẫm đây mới mười một tuổi cũng đồng theo hộ giá. Vậy thì, cơ đắc thất, trước sau phảng phất giống nhau như có định số. Nay vô cớ mà cửa ấy khô cạn, có lẽ là ý trời mặc hộ cho bản triều, muốn củng cố cơ nghiệp muôn đời, mà không muốn để người ngoài dòm ngó vào, nên mới khiến cho cạn hẹp như thế...”

Lạch nước bên trong cửa Tư Dung (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Đến năm Thiệu Trị (năm 1814), cửa Tư Dung được đổi tên thành cửa Tư Hiền để chứng tỏ nơi đây không còn hiểm nguy với sóng to gió lớn, cũng như cơ nghiệp nhà Nguyễn đang được ý trời giúp cho muôn thuở bền vững.

Lạch nước ra cửa (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Cửa biển ở ngay dưới chân núi Vinh Phong là Tư Dung, còn cửa biển ở vị trí hiện nay là cửa Tư Hiền. Từ đó đến nay, hai cửa Tư Dung và Tư Hiền cứ đóng, mở, thay nhau giữ vai trò ăn thông với đầm phá vào những năm 1811, 1823, 1844, 1853, 1859, 1879, 1990 và 1994... Chu kỳ đóng mở, thay thế vai trò lẫn nhau của 2 cửa biển này ngày càng ngắn lại. Cũng có những thời kỳ tồn tại cả hai song song. Bây giờ, hầu như ai cũng đã quên dần tên Tư Dung mà chỉ nói đến Tư Hiền.

Một ảnh vệ tinh Landsat chụp vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế vào thời điểm trước trận lụt lịch sử năm 1999, cho thấy cửa Tư Dung sát dưới chân núi Vinh Phong, và cửa Tư Hiền đang bị lấp hoàn toàn. Dòng chảy thông nước giữa đầm Cầu Hai và biển qua cửa Tư Dung thuộc địa phận hai xã Lộc Bình và Vinh Hiền, ngày càng càng nhỏ hẹp.

Cửa Tư Dung (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Năm 1994, cửa Tư Hiền bị lấp, tàu thuyền không thể đi qua, còn cửa Tư Dung đã cạn hẹp từ lâu, nên tàu thuyền phải đi vòng lên cửa Thuận An. Sở Thủy Lợi lúc đó đã huy động nhân lực và phương tiện nạo vét mở cửa Tư Hiền, để bảo đảm sự trao đổi nước và ổn định độ mặn cho các loài thủy sản đang được nuôi trong đầm phá. Tuy nhiên sau một đêm, cửa biển lại bị lấp cạn như cũ.

Ngày nay cửa Tư Dung đã bị lấp gần như hoàn toàn. Người dân địa phương đã ra sức trồng phi lao từ chân núi Vinh Phong đến tận lạch nước biển. Lạch nước biển đóng vai trò “giao lưu” với vực nước bên trong, chỗ rộng nhất khoảng 20 mét, chỗ sâu nhất khoảng 0.5 mét, có thể xem lượng nước thông với bên trong là không đáng kể. Vì không có dòng nước từ đầm phá chảy ra nên cát từ ngoài biển tiếp tục theo thủy triều ùa vào, lấp dần cửa Tu Dung.

Tư Dung xưa là cửa biển duy nhất và quan trọng của Thuận Hóa trong việc giao lưu chính trị, kinh tế với nước ngoài. Cửa Tư Dung, nơi có Quy sơn “trấn trị” từ xa xưa đã là trọng điểm đối với các vua chúa, kể từ thời Thuận Hóa còn thuộc về người Chiêm Thành. Chính các vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông sau những lần cất quân chinh phục Champa, đều đã thấy nơi đây là một địa thế chiến lược.

Cho đến sau này, kể từ thế kỉ XIII, Quy sơn đã nhiều lần chứng kiến cảnh quân Nguyên mượn cửa Tư Dung làm bàn đạp để tiến đánh Đại Việt; cũng như chứng kiến Thượng Hoàng Trần Nhân Tông sang giao hảo với người Chiêm Thành và cảnh Công chúa Huyền Trân về làm dâu đất Chiêm, một lễ vu quy có một không hai trong lịch sử dân tộc từng đi qua cửa biển Tư Dung (3).

Đặc biệt, kể từ năm 1470, trong nhiều cuộc hành quân, vua Lê Thánh Tông đã xem Tư Dung là một cửa biển trọng yếu. Sách Đại Nam nhất thống chí, Thừa Thiên Phủ, còn ghi rõ: “Đầu niên hiệu Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ngang qua cửa biển Tư Dung, bùi ngùi than rằng: “núi sông này hùng dũng lắm thay, đời sau chắc có kẻ anh hùng chiếm cứ chỗ này”. Sau vua Thái Tổ (Nguyễn Hoàng) dựng cơ nghiệp ở miền Nam, vua Anh Tôn (Nguyễn Phúc Trăn) đóng đô ở Phú Xuân, lời nói ấy quả có ứng nghiệm.”

Cửa Tư Hiền bị lấp (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Vua Quang Trung trong lần tiến quân ra Bắc giải phóng dân tộc dưới danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh, đã lấy cửa Tư Dung làm điểm xuất quân. Về sau nhà Tây Sơn cũng đã dùng nơi đây làm cứ địa tiến thủ. Đào Duy Từ, Lê Quý Đôn, vua Minh Mạng, vua Tự Đức… tất cả các vị này cũng đã từng khẳng định Tư Dung là cửa biển khải hoàn và tháo chạy trong chiến trận dưới nhiều triều đại khác nhau.
Tư Dung – Tư Hiền đã một thời đi vào lịch sử, một thời được tao nhân mặc khách ca tụng tán dương, ngày nay đến nới mới thấy vẻ xác xơ tàn tạ làm gì còn:

Khéo ưa thay cảnh Tư Dung,
Cửa thâu bốn bể, nước thông trăm ngòi.
Trên trời tinh tú phân ngôi,
Đêm treo thỏ bạc, ngày soi ác vàng.

Chẳng phải riêng gì cửa Tư Hiền Tư Dung, bao nhiêu cửa dọc bờ biển hình cong chữ S của quê mẹ, đang ngày ngày bị ngoại nhân khai thác không những làm nghèo đất nước mình mà còn gây mầm độc hại hủy diệt môi sinh: cá chết, người chết. Người dân chỉ biết kêu trời than đất. Nhưng, trời cao đất dày, tiếng kêu của dân một nước nhược tiểu chẳng đến đâu, có khi còn mang họa vào thân.
Một dân tộc vốn con Hồng cháu Lạc, có bốn nghìn năm văn hiến mà ngày nay đói nghèo bạc nhược, phải lê lết ra bốn phương trời kiếm sống! Ngày nào? Ngày nào mới xuất hiện một Lý Thường Kiệt, một Quang Trung, một Trần Hưng Đạo!!!
(2016)
(1). Hiện nay các nước hạ lưu sông Cửu Long đang khốn khổ vì nạn hạn hán do Tàu Cộng xây đập ngăn ở thượng nguồn (nghịch thiên). Nhà nước bán rừng đầu nguồn gây nạn lũ quét…v.v đều là nguyên nhân đưa đến “giã vong”.
(2) Theo báo Dân Trí trong nước: “Cửa biển Tư Dung đã bị bồi lấp nặng gần 5 năm qua, khiến đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, những gia đình làm kinh tế dựa vào nuôi trồng thủy hải sản đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
“Vì thế, 43 gia đình nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản của xã Lộc Bình đã bị thiệt hại rất lớn. Trước khi cửa biển bị bồi lấp, mỗi gia đình sống bằng nghề nuôi trồng thủy hải sản cũng có thể kiếm được từ 30-50 triệu đồng/năm, từ các loại cá hồng, cá mú, cá vẩu nuôi trong đầm Hải Phú. Giờ thì có rất nhiều gia đình không còn nuôi được loại thủy hải sản nào nữa, do nước bẩn vì không có sự lưu thông từ nguồn nước biển vào. Một số gia đình điêu đứng, lao đao vì làm không đủ trả nợ
“Đó là chưa kể đến một hệ thống nuôi trai lấy ngọc của công ty Biển Ngọc đầu tư, cũng ngưng hoạt động từ 2 năm nay do nguồn nước bẩn khiến trai chết hàng loạt và thiệt hại hơn 4 tỷ đồng, giờ đành bỏ hoang.”
(3) Xem bài Đền thờ CC Huyền Trân.

Tin sách: Xin trả lời chung, sách “Vào Đời” hiện vẫn chưa về, sách QHQOK hiện còn 14 tập (discount 50%). Xin liên lạc với tác giả: (657)296- 8727 - email: Trannhungcong46@gmail.com, P.O. Box 163 Garden Grove, CA. 92842, hoặc tại địa chỉ: 1209 SW. Hopi St. Blue Springs, MO. 64015.

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp