Friday, 18/11/2016 - 11:11:08

Cổng cổ làng xưa (kỳ 2)

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Cổng làng Mông Phụ được xây dựng vào thời vua Lê Thần Tông,(1) là trục đường chính vào làng. Cổng làng đã mấy trăm năm song không hề giống cổng những làng khác trên vùng đất Bắc. Những cổng làng cổ thường có vọng lâu với mái vòm cuốn tò vò, trụ cổng đắp hoa văn, có câu đối. Ở đây cổng làng chỉ là một ngôi nhà hai mái, nằm ngay trên đường vào làng. Cổng được xây theo kiểu “Thượng gia hạ môn,” trên nhà, dưới cổng. Cổng xây bít đốc, có trụ đỡ mái và đầu nóc, bên trong có khung gỗ, kèo, hoành, rui, mái lợp ngói. Thượng lương còn rõ dòng chữ khắc trên gỗ:
“Thế hữu hưng nghi đại”

Cổng làng Thành (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Ý nói:
“Cuộc đời muốn được hưng thịnh cần phải thích nghi.”
Tường cổng bằng đá ong lấy từ lòng đất, cát lấy trên gò trong vùng rồi trộn vôi với mật, tạo thành hỗn hợp kết dính để xây. Tường đá ong trần chít mạch, không “đao, đấu, diềm, mái”. Hai cánh cổng bằng gỗ lim theo hình “cánh dế” dày chừng bốn năm phân, xoay trên hai cối cổng bằng đá và hai bánh xe gỗ bọc thép. Cổng làng chỉ đủ cho vài người làm nông, các chú tuần đinh dừng chân nghỉ ngơi. Cổng làng là ranh giới vùng lao động bên ngoài và khu sinh hoạt trong làng. Trước cổng có cây đa cổ, bên cổng có ao sen, là những nét chấm phá mộc mạc đã làm tăng phần ý nghĩa và vẻ đẹp riêng của làng. Cái hay của cổng làng Mông Phụ là không tôn tạo sửa sang, làm mất nét chân chất mộc mạc nguyên thủy của một biểu tượng làng quê.

                                   Cổng làng Ước Lễ (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Cổng làng Mông Phụ bình dị bao nhiêu thì cổng làng Ước Lễ tinh tế bấy nhiêu. Nói đến làng Ước Lễ (thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cách Hà Nội trên 30 km), ai cũng nghĩ đến món đặc sản của làng này: Giò chả.

Phần nhiều làng xứ Bắc thường sống theo chung một nghề, gọi là làng nghề: Nón làng Chuông, tranh Đông Hồ, pháo Cự Đà, giò chả Ước Lễ. Nhưng nói về nét đẹp của từng địa phương thì Ước Lễ có cổng làng dựng từ thời nhà Mạc là một trong số cổng làng xuất hiện rất sớm, đẹp nhất ở Hà Tây còn lại đến ngày nay. Nhìn từ xa, nó cho ta cảm giác về một công trình kiến trúc vững chắc, đồ sộ như một công trình quân sự.

Cổng làng miền Bắc (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Cổng nằm ở đầu làng, chiếm một không gian lớn với cây cầu ưỡn cong, tường gạch có kích thước khá lớn. Cổng hình vòm cuốn, mái cong, hai cột bên và trên hai mặt đều đắp nổi chữ Hán. Mới nhìn cổng như một gác chuông chùa nhưng cho ta một cảm giác như một công trình thành quách phòng ngự. Có thể nói, cổng làng Ước Lễ là một công trình kiến trúc rõ nét cổ kính và nhiều ý nghĩa trong thời đại phong kiến lúc bấy giờ.

Cổng làng Ước Lễ thể hiện các đặc tính kiến trúc chính thống: kiến trúc cung điện, dinh thự, kiến trúc lăng mộ, thành trì, kiến trúc đền chùa, đình làng. Ngoại hình cổng làng na ná cổng vào thành nội cố đô Huế: Cầu qua con mương bao quanh phía trước làng. Bề dày của cổng tới hơn 2 mét, có vọng lâu như các cửa thành cổ xưa (Đông Ba, Thượng Tứ, Nhà Đồ của thành nội Huế).

Cổng làng Thổ Hà (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Cổng làng Ước Lễ đã được trùng tu nhiều lần do sự tàn phá của thời gian. Bên trong cổng làng, một khoảng đất rộng lát gạch nghiêng, dưới bóng cây đa cổ thụ mấy trăm năm, là nơi họp chợ, nơi diễn ra nhiều sinh hoạt của làng.

Cổng cổ làng xưa rải rác trên đất Bắc làng nào cũng có, phải một tập sách dày mới nói hết, trong khuôn khổ một hai bài báo, chúng ta chỉ có thể lướt qua một vài vùng, điểm qua một số cổng làng nổi tiếng lâu năm.

Lần đầu ra Bắc (2001), tôi về chơi Bắc Giang được người bạn mới quen trên chuyến xe khách, đưa đi thăm một vài nơi. Bắc Giang có nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống. Có gốm da chu làng Vẽ. Làng Vẽ còn gọi làng Thành, nằm ngay phía Đông thành phố. Chuyện kể thời quân Minh bên Tàu tràn sang Cao Bằng Lạng Sơn, quân ta chống không nổi, từ biên giới rút về Bắc Giang và trong một ngày đêm đã dựng một bức trường thành cao lớn bằng hình vẽ. Quân Tàu tràn xuống thấy vậy tưởng gặp đại quân Việt Nam nên sợ rút lui.(2)

Cổng làng Vẽ xây gạch nung, cửa vòm hẹp mà cao, không câu đối không đại tự, chỉ có đắp năm xây: 1929. Tường vách đã bong lớp tô ngoài nhưng không nứt nẻ, trông còn vững chắc và vẫn giữ được nét cổ xưa.

Bắc giang cũng còn một cổng làng cổ: cổng làng Thổ Hà. Trước 75 thời kỳ đang mê say với nhiếp ảnh, có lần tôi thấy ảnh “Cổng làng Thổ Hà,” tác phẩm của một bậc thầy trong làng ảnh nghệ thuật, ảnh đẹp và ý nghĩa khiến tôi phải “hít hà” thán phục và thầm ước có dịp đi tìm xem tận mắt cho thỏa lòng. Thế rồi sau một thời gian định cư ở nước ngoài, lần trở về đầu tiên tôi đã đi tìm làng Thổ Hà để chụp hình cổng làng có cây đa như trong ảnh ngày trước.

Thật không may, khi đến nơi, cây đa chết tự bao giờ. Hỏi thăm một bác ở cận đình, ông cho biết: “Cây đa xưa cao lớn có bộ rễ rất đẹp, rễ to như cột nhà, ăn từ cành cao xuống đất, nhiều người đến chụp hình”.
- Cây đa chết từ bao giờ hả bác?
- Từ bao giờ thì không biết, nhưng nó ngã xuống năm 1980.
- Còn cây đa này.
- Cây này trồng năm 1960.
Vậy cũng đã 40 năm. Bốn mươi năm, nửa đời người, cây đa chỉ như cậu bé còn cắp sách đến trường. Tôi hỏi thăm về cổng làng:
- Cổng làng Thổ Hà trước kia có tiếng là đẹp, nay như xây lại bác nhỉ.
- Vâng, đã xây mới nhưng vẫn giữ nét xưa.
Chung chung thì cũng chẳng còn nơi nào cổ xưa thật sự. Làng cổ chẳng cổ, đền xưa chẳng xưa, nhưng do kinh doanh nên cứ đưa vào danh mục cho tiện bề khai thác. Ở xa khách hình dung đủ thứ, nhất là khách nước ngoài, qua tài liệu quảng cáo thì nghe ghê lắm, đến nơi chả có gì. Phần lớn du khách bất mãn, đã không ngần ngại nói thẳng, “Không bao giờ trở lại” cho dù “VN có nhiều con gái đẹp.”(3)
Thực lòng mà nói, từ “quan đến dân,” ngày nay ai cũng biết muốn sống còn là phải “dối trá, lươn lẹo, lừa gạt, đầu độc nhau... không thể lương thiện, ngay thẳng giữa bầy sói rừng.” Một nhân vật trong truyện “Chị Cả Bống” đã phải tuyên bố muốn “vào tù để được sống với người lương thiện tử tế, ngoài đời toàn kẻ bất lương độc ác.”

Đất nước là thế, xã hội là thế, con người buộc phải thế, nhưng tinh ý và chịu khó “gạn đục khơi trong” thì cũng còn nhiều cái để ghi nhận, để tìm hiểu, để biết thêm về cuộc sống của quê hương. Một cuộc sống vốn dĩ không bình thường, sáng chiều đã khác nhau chứ không mẫu mực như báo chí ca ngợi.
Không đi khó mà biết được sự tình.
Trần Công Nhung (2016)

(1) Lê Thần Tông (1607 – 1662) trị vì: (1619-1643) và (1649-1662), tên húy là Lê Duy Kỳ, là vị vua thứ 6 của nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông cũng là vị Vua Việt Nam duy nhất hai lần lên ngôi, có đến bốn người con đều làm vua và là vị vua Việt Nam đầu tiên lấy vợ phương Tây và vua cũng có nhiều vợ là người các dân tộc thiểu số.
(2) Lễ hội Xương Giang được tổ chức hàng năm, từ mùng 6 đến mùng 7 tháng Giêng. Đây là Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Chi Lăng-Xương Giang trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn năm 1427 do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo đã tiêu diệt hơn 10 vạn quân nhà Minh xâm lược, chấm dứt 20 năm đô hộ của nhà Minh. Đây là chiến thắng quan trọng của miền biên ải Đông Bắc, tạo nền độc lập dân tộc vào thế kỷ XV, được sử sách coi là trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
(3) Phát biểu của chủ tịch nước Ng M T trong chuyến công du Mỹ.

Tin sách: Sách QHQOK bộ 16 tập (discount 50%).Từ 18 tháng 10 phát hành hai tác phẩm mới: Vào Đời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang) xin liên lạc tác giả: email:trannhungcong46@gmail.com,
Tel. (657)296-8727 hoặc thư về địa chỉ 1209 SW. Hopi St., Blue Springs, MO 64015 (USA)

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp