Friday, 04/11/2016 - 08:59:36

Cổng cổ làng xưa (kỳ 1)

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Nói đến tình quê hương, đối với lớp tuổi của thời “Quốc Văn Giáo Khoa Thư,” theo tôi hình ảnh gợi nhớ nhất có lẽ là “cây đa – giếng nước – cổng làng,” bắt nguồn từ miền Bắc dần vào miền Trung rồi mờ nhạt dần nơi đất phương Nam. Điều này dễ hiểu khi ta hình dung con đường lập quốc và mở nước khởi đi từ Bắc xuôi Nam. Do đó, đất Bắc như là cái nôi của truyền thống nét xưa, mà cổng làng là một biểu tượng khá rõ còn lưu lại đến bây giờ.Chắc chắn hàng nghìn năm trước, người Việt quây quần từng nhóm, nhiều nhóm thành một khu và rồi do lẽ sinh tồn đã biết kết đoàn để tự bảo vệ chống lại thiên tai, thú dữ, chống kẻ ngoại xâm.
Khái niệm xây thành đắp lũy nẩy sinh từ đó. Lũy tre là cách tự vệ khá phổ biến trong thời kỳ phôi thai. Theo thời gian, tình cảm dân làng ngày càng gắn bó, biết che chở đùm bọc nhau trong tình tương thân tương trợ. Từ đó hình thức tổ chức về “hành chánh” “quốc phòng” được thể hiện dần. Làng có xóm ngoài, xóm giữa, xóm trong hoặc xóm trên xóm dưới... tùy địa thế mỗi làng mà phân chia. Địa giới làng, bao bọc bởi lũy tre xanh, hai đầu làng đều có cổng, có điếm canh, ban đêm cổng đóng, “nội bất xuất, ngoại bất nhập.”
Tuy làng này kề sát làng kia nhưng trong đời sống, tập quán gần như luôn có sự biệt lập. “Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy” đó là câu thường nghe những ngày xa xưa, ám chỉ trai làng này không lấy vợ làng kia. Ngày ấy quê tôi đã xảy ra chuyện trai tráng hai làng Phúc Nhỉ và Kim nại choảng nhau chỉ vì một cô gái phá lệ đi lấy chồng làng khác.

Thành ngữ “Sau lũy tre xanh” để chỉ một đời quanh quẩn trong làng. Dân làng biết rõ mặt nhau, “tình làng nghĩa xóm” khắng khít một đời. Cuộc sống tuy thấp, nghèo, nhưng luôn được “an cư lạc nghiệp.” Không bị trộm cướp rình rập không thường xuyên phải khai báo, không công an khu vực, không “hộ khẩu” để “hậu khổ” như bây giờ.

                                               Lăng Ngô Quyền (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Về kiến trúc, cổng làng truyền thống là những công trình kiến trúc cổ, pha kiến trúc đình, chùa. Vòm cổng thường xây cuốn hình vòng cầu. Tùy theo điều kiện của mỗi làng mà vòm cổng có quy mô bề thế khác nhau, nhưng luôn hài hòa bảo đảm thuận tiện cho dân làng đi lại.

Liên kết với vòm cổng là hai trụ cổng, xây thẳng đứng, đắp vẽ công phu. Trên hai trụ thường đắp nổi câu đối. Trên vòm cổng và trụ cổng là mặt cổng, thường được đắp đại tự tên làng, hoặc những chữ mang ý nghĩa súc tích, thể hiện phương châm xử thế và đạo đức của làng.
Phần trên cùng là mái lợp.

                                        Cổng làng Đường Lâm (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)
 

Cổng làng xưa thường lợp mái ngói để che mưa nắng cho người qua lại. Nhiều nơi có cổng làng tầng trên còn có Vọng lâu với hai, ba lớp mái, mỗi góc mái đều có đầu đao, phỏng theo kiều mái đình chùa cổ (như các làng ở Hà Tây: Ước Lễ - Thanh Oai, Thượng Hội - Đan Phượng, Tảo Khê - Ứng Hòa).

Có thể nói cổng làng truyền thống rất phong phú, đa dạng về kiểu dáng và chất liệu, đã tồn tại hàng trăm năm, là những công trình kiến trúc ngoài giá trị lịch sử văn hóa, còn thể hiện được hồn quê, cốt cách của làng xã Việt Nam, cần được bảo tồn và lưu giữ. Làng quê xưa trong thời loạn, cổng làng và lũy tre xanh trở thành những chiến lũy. Thời bình, cổng làng là ranh giới của mỗi địa phương. Từ đó con dân trong làng luôn đề cao tinh thần bảo toàn nét văn hóa riêng của làng mình.

Cổng làng ngày trước thường giống nhau phần đại thể, song chi tiết có khác nhau, đó là những hoa văn trang trí, đại tự, câu đối, để nói lên ý nghĩa đạo lý, tập quán hay sự tích đặc biệt của làng có từ ngày mới khai canh.
Theo sử học là thế, nhưng qua bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu biến thiên lịch sử thì ngày nay may mắn lắm cũng chỉ còn lại một vài dấu tích. Ai cũng biết, sau ngày gọi là “cách mạng mùa thu,” bao nhiêu đình chùa miếu mạo bị đập phá cho xuống sông xuống hố. Làng tôi có khu “Văn Miếu nương Son” bị phá không còn gì. Một người cho biết chỉ còn một mảng bình phong vứt ngoài ruộng, phải mùa khô nước mới thấy.(1)
Hiện nay ngoài Bắc một đôi nơi cũng còn giữ lại những nét cổ xưa ấy. Làng cổ nổi tiếng ở Hà Tây (cũ) gồm Sơn Tây xứ Đoài và vùng Hà Đông, một số cổng làng còn giữ được vóc dáng xưa, chân dung về làng quê truyền thống.

Nhiều năm trước đây tôi đã đi qua một số làng cổ tiêu biểu của vùng Hà Tây có Đường Lâm, Ước Lễ, Bắc Giang có làng Thành (Vẽ), Thổ Hà.

Qua khỏi thị xã Sơn Tây chừng 4 km có một cổng chào màu mè (chẳng cổ tí nào) dựng ngay bên quốc lộ: “Làng Cổ Đường Lâm được xếp hạng di tích quốc gia”. nghe 3 chữ “được xếp hạng” tôi thấy chương chướng trong người.(2)

Xe rẽ vào chỉ mấy phút đã thấy chợ họp dài dài hai bên đường, chợ Mía. Ngoài con đường cái lớn, các lối vào xóm chỉ vừa cho xe máy chạy. Tôi không thấy chỉ dẫn đâu là Đường Lâm. Trong khi loanh quanh vào một ngõ thì gặp một nhân sĩ, ông cho biết thêm nhiều chi tiết cụ thể về làng cổ này.

- Chào bác, bác cho hỏi thăm, làng cổ Đường Lâm nổi tiếng, sao tôi thấy đường nét màu sắc cổng làng ngoài đầu đường, nặng về tuyên truyền, chẳng có tí gì cổ xưa?

- Nói là làng Đường Lâm, thực ra đây là một quần thể gồm 4 làng: Mông Phụ, Đông Sàng, Đoài Giáp và Cam Thịnh do đó vào Đường Lâm có nhiều lối, nay chỉ còn cổng làng Mông Phụ là cổng cổ.
- Thưa bác, ngay đây là làng nào?

- Đây là Mông Phụ, có ngôi nhà cổ của Thám Hoa Giang Văn Minh. Ra ngoài đường cái có chợ Mía, chùa Mía, đấy là Đông Sàng. Cứ đường cái đi thẳng lên là Đoài Giáp, trên Đoài Giáp là Cam Lâm quê của hai Vua: Phùng Hưng và Ngô Quyền. Ngày 3 tháng 9 âm lịch năm nay, Hà Nam Ninh sẽ khởi công đúc tượng vua Phùng Hưng.(3)

                                            Cổng làng Mông Phụ (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

- Hay quá, may gặp bác, chúng tôi chẳng có tài liệu gì, chỉ nghe tiếng mà đi thôi. Tôi định quay đi thì ông khách lại cho biết thêm:

- Địa phương này có tiếng lắm. Hàng năm các ông lớn thường về chùa Mía lễ bái. Lại còn có một cô sinh viên Nhật Bản đến ở đây cả năm để nghiên cứu. Cô này bảo, người Hải Dương, Thái Bình rất căm thù Nhật, còn dân vùng này thì không.

- Thưa bác, cô sinh viên Nhật nghiên cứu gì mà ở đây cả năm hả bác?
- Thấy cô đi thăm từng nhà, từng ngõ hẻm, đền chùa khắp vùng Đường Lâm. Chụp ảnh, ghi chép hỏi chuyện người dân...

- Cô ấy chắc biết tiếng Việt nên mới ở lâu để nghiên cứu bác nhỉ?
- Tôi không gặp cô ấy nên không rõ, nhưng chắc thế nào cô ta cũng đã nghiên cứu ít nhiều về tiếng Việt thì mới ở lâu như thế. Thế ông thì đi du lịch hay cũng nghiên cứu gì?
- Dạ, tôi đi du lịch, nhưng cũng muốn tự mình ghi lại đôi điều tai nghe mắt thấy mỗi nơi mình đến thăm. Bác à, lúc nãy bác bảo những ngày Tết nhiều ông lớn đến cúng viếng chùa Mía đông lắm, tôi nghĩ những người cộng sản đâu tin thần thánh mà cúng bái?

- Cái đó hồi trước chứ bây giờ khác rồi, người ta bảo các ông cúng chùa những bạc tỉ cơ!
Tôi cảm ơn vị nhân sĩ rồi đi xem một vài con hẻm nhà cổ trong làng Đường Lâm, thăm cổng làng Mông Phụ, một trong số cổng cổ còn lại, tương đối nguyên vẹn đến hôm nay.
(Còn tiếp)

 
Ao làng (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)
 

2016
(1). Chuyện đập phá và xây dựng ở VN (xhcn) trong suốt gần thế kỷ qua đã làm mất đi bao nhiêu giá trị văn hóa đích thực để dựng lên những mô hình vô bổ lai căng (tượng “mẹ” tượng “bác” ngốn hàng nghìn tỷ tiền thuế của dân chỉ để phô trương tuyên truyền, tâm linh tín ngưỡng thì cho là mê tín dị đoan.
TS Nguyễn Xuân Diện trả lời phỏng vấn của PTN: “Thưa cô, người cộng sản thì vô thần, và tinh thần dân tộc thì đặt dưới tinh thần quốc tế vô sản. Vô thần thì đền chùa, đình miếu, nhà thờ họ... phải đập bỏ vì tôn giáo và tín ngưỡng là thuốc phiện của nhân dân lao động. Tinh thần quốc tế vô sản học theo Trung Quốc và dưới sự bảo kê của Liên Xô, nên mới có cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất.
(2) Di tích lịch sử được toàn dân công nhận chứ không phải do một hai cá nhân. Thời phong kiến, sắc phong vua ban cũng dựa vào giá trị tài năng đích thực của nhân vật hoặc giá trị lịch sử của di tích được cả nước đều biết. Ngày nay tài năng con người được ghi nhận một cách tùy tiện (mua bằng tiền, do “cơ cấu”). Nữ nghệ sĩ Kim Chi có câu nói để đời: “Tôi không muốn treo trong nhà chữ ký của một người đã làm cho đất nước tàn mạt.”

                                        Đền thờ Phùng Hưng (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



(3) Phùng Hưng lo cho dân hết lòng nên được xem như bậc cha mẹ: Bố Cái Đại Vương.

Tin sách: Sách QHQOK bộ 16 tập (discount 50%). Từ tháng 10 phát hành hai tác phẩm mới: Vào Đời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang). Xin liên lạc tác giả: email:trannhungcong46Ỵgmail.com; Tel. (657) 296-8727, hoặc thư về địa chỉ: 1209 SW. Hopi St., Blue Springs, MO 64015 (USA)

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp