Friday, 09/10/2015 - 08:47:32

Cổ thành Diên Khánh (kỳ 1)

 Bài TRẦN CÔNG NHUNG


  Cửa Đông (Trần Công Nhung/Viễn Đông)


Hầu hết thành lũy cổ đều ra đời dưới thời các Vua Chúa triều Nguyễn: Gia Định thành, cổ thành Quảng Trị, thành Đồng Hới, thành Diên Khánh. Thành thường đặt nơi trọng yếu đông cư dân, trung tâm tỉnh lỵ. Riêng thành Diên Khánh nằm cách thành phố Nha Trang chừng 10km về phía Nam, địa phận khóm Đông Môn, thị trấn Diên Khánh. Vùng đất màu mỡ này nằm bên dòng sông Cái hiền hòa, đã trải qua biết bao sự kiện lịch sử, qua nhiều đổi thay để được định hình như ngày hôm nay.

Sống và làm việc tại Nha Trang nhiều chục năm, nhưng tôi chưa hề tìm hiểu về lịch sử cũng như vóc dáng của ngôi thành cổ này. Mỗi khi có việc vào cửa Đông ra cửa Tây, tôi cứ nghĩ mình đã biết rồi, chẳng có gì thắc mắc để tâm. Giá mà có dạy môn sử thì chắc không phải chờ đến hôm nay, sau nhiều năm ở xứ người trở về, mới đi tìm tòa Hoàng Cung ngày xưa xem nay ra sao, có đúng như những điều luân lưu qua sách báo và trên mạng Internet?

Từ thành phố Nha Trang, chỉ 20 phút xe máy là đến thành Diên Khánh. Dấu hiệu đầu tiên là cây Dầu Đôi. Cây cổ thụ mấy trăm năm này gắn liền với nhiều sự tích về phong trào Cần Vương chống Pháp. Từ cây Dầu Đôi thẳng đường non cây số là vào cửa Đông.

Cổng thành kiến trúc theo khối vuông vững chãi, xây bằng gạch nung cỡ 4.5cm x 1.38cm gồm hai tầng: tầng dưới nối vào tường thành, mặt ngoài rộng 16.8m, cao 4.5m, xây thẳng đứng, mặt trong xây tường gạch cao khoảng 2m, cách mặt ngoài 2.5m để đổ đất vào giữa.


                                              Cửa Hậu (Trần Công Nhung/Viễn Đông)


Cổng rộng 3.2m, xây gạch kiểu vòm cuốn, đỉnh cao nhất khoảng 3.5m, cánh cổng bằng gỗ lim dày. Mặt trong hai bên cổng xây tam cấp bằng gạch, rộng hơn 2m làm lối đi lên tầng trên. Tầng trên cao ngang mặt thành, hình tứ giác mỗi chiều 1.5m, cao gần 2m, xây cổ lầu mái uốn, lợp ngói âm dương, dựng lan can cao gần 1m. Đây có thể là nơi canh gác, quan sát trong, ngoài thành. Toàn bộ cổng thành không hoa văn trang trí, tên cổng ghi bằng chữ Hán.

Nhìn tổng thể, cổng thành mang dáng vẽ kiến trúc Á Đông thời ấy. Theo sử liệu, thành Diên Khánh có sáu cửa mở theo sáu cạnh tường thành. Nay chỉ còn lại bốn cửa: Đông, Tây, Tiền (Nam), Hậu (Bắc). Năm 1823, cửa Tả và cửa Hữu đã bị lấp, không còn dấu vết gì, tuy vậy có thể đoán biết hai cổng cũng nằm trên hai cạnh tường thành Tây Nam và Đông Nam. Hiện giờ, chỉ còn ba cửa được sử dụng, cửa Hậu mặt Bắc không có cổng thông hào qua khu dân cư.

Đường vào cửa Đông là đường chính qua thị trấn, phố xá khang trang mua bán tấp nập nên nhìn cổng thành cũng sáng sủa bề thế. Ngoài cũng như trong cổng có đèn xanh đỏ báo cho xe cộ vào ra. Bên trái cổng có bia tóm tắt lịch sử:

 
Thành Cổ Diên Khánh
(Thuộc thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh)
Thành được chúa Nguyễn xây dựng năm Quí Sửu (1793), kiến trúc theo kiểu thành trì quân sự Vauban (Pháp), nhằm để phòng thủ, án ngữ và bảo vệ vùng đất Nam Trung Bộ.
Đồng thời, đây cũng là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Khánh Hoà qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1802 (thời Nhà Nguyễn) đến đầu năm 1945.
Năm 1988, được bộ VH-TT xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Trung tâm quản lý di tích
Danh lam thắng cảnh Khánh Hòa 2004
 

                                             Công viên (Trần Công Nhung/Viễn Đông)


Cổ thành mà màu sắc mới, vắng bóng rêu phong, lại còn khoác lên thành cổ những khẩu hiệu, quảng cáo trái ngược với di tích. Đây cũng là lối làm văn hóa của VN ngày nay. Nhìn xuống hai bên hào thành mới thấy rõ “văn hóa môi sinh,” đầy rác bẩn, đồ phế thải cứ như đấy là hố rác. Để khỏi mất thì giờ thăm dò linh tinh, tôi vào phòng Văn Hóa - Thể Tháo (VH-TT) huyện, anh gác cổng thấy tôi mang máy ảnh có vẻ dè dặt, đi theo tôi để chỉ đường và dặn, “Chú đừng chụp ảnh gì nhe.”

“Không tôi chỉ muốn hỏi về di tích thành Diên Khánh.” Tôi lên lầu, cảnh thật vắng, ngang qua mấy phòng chẳng thấy ai, không chắc phòng VH-TT đã có người. May quá, có một cô đang lay hoay với sổ sách.
“Xin lỗi cô, tôi là khách du lịch, tôi muốn biết di tích thanh Diên Khánh nay còn những gì hả cô.”

“Dạ ngoài bốn cửa thành chẳng còn gì ạ.”

“Tôi nghe nói còn cột cờ, sân chầu của hoàng thành?”

“Dạ không đâu, những gì ngày xưa còn lại trong thành đều được giải phóng (1) để xây dựng cơ quan như chú thấy đó. Không còn gì đâu.”
 
Hỏi rõ thêm vị trí chính xác của điện Thái Hòa, dinh Án Sát, dinh Tuần Vũ... cô nhân viên cười trừ, tôi đành đi tìm ba cửa thành còn lại. Băng qua một ngõ hẹp bên kia đường, không xa đã thấy cửa Hậu. Do không phải cửa ra vào nên lối đi hẹp tí và đầy rác rến dơ bẩn ngay cả trong cổng. Bên ngoài cửa Hậu là hào thành khô nước, dân làm đất trồng hoa màu theo triền bờ thành. Cửa Hậu xây cùng mẫu như cửa Đông, kích thước màu sắc không khác.

Theo lời kể của nhiều người thì sau cửa Hậu, ngày xưa trồng cây sao chi chít mục đích để giữ cho nước sông Cái không phá bờ, gọi là Hàng Sao. Nay không còn cây sao nào nhưng tên Hàng Sao vẫn thường được nhắc nhở do trong thời kỳ có phong trào Cần Vương chống Pháp, rất nhiều chiến sĩ bị hành quyết nơi đây.

Trở lui tìm cửa Tây, cửa Tây trên cùng đường với cửa Đông, đường Lý Tự Trọng, tuy nhiên từ Tây sang Đông phải vòng vèo nhiều đoạn chứ không theo một đường thẳng. Có thể khi lập hoàng thành, con đường thẳng xuyên qua hai cửa Đông Tây, về sau do nhà cửa cư dân phát triển nên phải thế. Kiến trúc cửa Tây cùng khuôn mẫu với Đông.


                                               Cửa Tiền (Trần Công Nhung/Viễn Đông)


Từ cửa Tây đi về hướng cửa Đông chừng 300m rẽ phải đường Trịnh Phong ra cửa Tiền. Cửa Tiền sáng sủa sạch sẽ, chạy thẳng ra Quốc Lộ 1A. Cửa Tiền ít người qua lại, cảnh nghiêm trang phảng phất nét cổ kính.
Bốn cửa của thành Diên Khánh đều cùng một khuôn mẫu. Sử ghi trước kia mỗi cổng đều có cửa bằng gỗ lim chắc chắn, nay thì không cửa nào còn. Theo VH-TT cho biết thành Diên Khánh đã được trùng tu phục chế (cửa thành) và khơi vét thông hào quanh thành, đã làm đường xi măng chạy ven ngoài bờ hào có đèn chiếu sáng. Do ngân khoản không đủ nên công cuộc tôn tạo chưa hoàn tất (chưa đưa nước vào hào).

Tạm dừng chuyện di tích, tôi rảo qua xem một một vài công trình công cộng mới có sau này: Công viên đối diện UB Huyện Diên Khánh, tuy nhỏ nhưng cây cối xanh tươi, có hòn non bộ tạo nét thiên nhiên tươi mát, các cụ bà, lão ông có nơi hóng gió, trẻ thơ có chỗ vui chơi. Điều đáng nói là không có những “tác phẩm đá điêu khắc” với hình thù kỳ dị, nuốt bạc tỉ mà chẳng ai hiểu gì.

Ra ngoài thành chạy về hướng cầu Lùn (Nam), một hình ảnh khá lạ đập thẳng vào mắt du khách. Tôi tin những ai mới thấy lần đầu sẽ rất ngạc nhiên: Quảng cáo “Bánh ướt-bánh phở”. Quán thì tôn che tạm bợ bên đường nhưng quảng cáo thi tranh nhau lớn nhỏ. Có những bảng chỉ có hai chữ “Bánh ướt” mà to hơn chiếc chiếu.


                                            Bánh tráng (Trần Công Nhung/Viễn Đông)

Diên khánh còn một hai nghề thủ công khác như chằm nón, làm bánh tráng.

Sau đây là một đoạn trích trong bài chiếc nón lá (2): “…Tôi lại theo người bạn ảnh trẻ đi thăm làng nón Diên Thủy, huyện Diên Khánh. Nghề nón ở Diên Thủy cũng theo lối thủ công cá nhân, mỗi nhà tự tổ chức làm riêng. Tôi vào thăm một nhà chằm nón mà trước đây nhiều bạn nhiếp ảnh đã đến sáng tác. Nhà có hai cô gái có tay nghề cao, dáng dấp khá, hôm nay bà mẹ cho biết cô chị đi vắng, chúng tôi ngõ ý nhờ Loan (cô em). Cô bé lại e then, cứ tìm cách chối từ. Bà mẹ và chúng tôi hết lời năn nỉ Loan mới chịu ngồi làm. Tưởng là hình ảnh sẽ không được linh động, nhưng lúc chằm (nón) cô gái tỏ ra mềm mại, thao tác nhịp nhàng và rất có thần. Nhiều kiểu rất hay, nhờ hàng chục chiếc nón làm sẵn, tôi xếp được nhiều ảnh có bố cục, đường nét khác nhau.”
Nón thì trong nhà, bánh tráng đem dựng phơi ngoài đường, suốt một ngày chiếc bánh hứng nhận bao nhiêu thứ dơ bẩn trong không khí, người dùng vẫn “vô tư”, chỉ khi vào phòng cấp cứu mới suy nghĩ. Quá muộn!

(còn một kỳ)
Trần Công Nhung
(2015)

(1) Nghe hai tiếng “giải phóng” mà rờn rợn tóc gáy. “Giải phóng miền Nam, giải phóng mặt bằng…”. Nhờ “giải phóng” mà bao nhiêu oan hồn được “siêu thăng Tịnh độ”, bao nhiêu người ăn nên làm ra, được sống trong “thiên đường xhcn”. Hàng vạn chị em phụ nữ ra nước ngoài làm osin (ở đợ), làm nghề bán trôn nuôi miệng. Hàng vạn trai tráng “đi xuất khẩu lao động” (làm thuê ở mướn), những điều mà trong thời “Mỹ ngụy” không dễ có.
(2) Trang 139 QHQOK tập 2

Liên lạc với tác giả qua email: trannhungcong46@gmail.com

 

 
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp