Friday, 07/10/2016 - 10:16:47

Chùa Trà Am

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Cố đô Huế có thể nói là nơi hội tụ nhiều chùa nhất nước và phần lớn là chùa nổi tiếng: Chùa Thiên Mụ, Diệu Đế, Bảo Quốc, Từ Hiếu, hầu như dân Huế ai cũng nghe cũng biết. Trong số hàng trăm chùa trên đất kinh thành có chùa Trà Am cũng là ngôi chùa cổ được sử sách ghi chép, nhưng hỏi ra không mấy người biết.

Chân dung Hòa Thượng Viên Thành


Theo tài liệu cũ cũng như lời các thầy kể lại thì Chùa Tra Am (tên buổi đầu, sau là Trà Am) tọa lạc giữa vùng đồi núi hoang vu dưới chân núi Ngũ Phong, xây từ năm 1923, vốn là một chòi tranh nhỏ do tổ sư Viên Thành lập nên. Vị tổ sư vốn thuộc dòng dõi hoàng tộc nhưng vì giác ngộ đạo Phật, đã xin ra khỏi kinh thành dựng am nhỏ ngày ngày tụng kinh niệm phật. Điều đặc biệt của Tra Am trước tiên là tên gọi “không hề trùng lặp” với tên hàng nghìn ngôi chùa khác.
Đa phần tên chùa đều được trích dẫn trong kinh phật nhưng tên Tra Am lại bắt nguồn từ một điển tích mang nặng ân nghĩa.

“Tra Am là do điển tích của Tàu, theo Nam Sử, Trương Phu thuở nhỏ tên là Tra, cha ông là Trương Thiệu tên tục là Lê. Vua Tống Văn Đế thường gọi đùa rằng: “Tra sao bằng Lê được!” Trương phu cười mà tâu rằng: “Lê là cây trăm quả, Tra đâu dám sánh bằng!”

Hoa viên sau chùa (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Sau khi người cha qua đời, Tra đã dựng nhà bên mồ thân phụ suốt hai năm ba tháng để tỏ lòng hiếu nghĩa. Đời sau dùng điển tích này để chỉ kẻ hậu sinh không bằng người xưa, ngụ ý khiêm nhường tôn kính. Làm con phải cố gắng để hơn hẳn cha mình mới xứng câu “Con hơn cha là nhà có phúc.”
Vì muốn báo đáp ân nghĩa của ân sư Viên Giác nên Hòa Thượng Viên Thành mới lên núi lập chùa ngay cạnh mộ sư tổ và lấy tên Tra Am. Ngôi chùa từ đó được biết đến với ý nghĩa báo hiếu.” Trong di chúc để lại vị tổ khai sơn Viên Thành nói “Tự hậu Tra bất như Lê dã” để tỏ lòng tôn kính sư phụ mình. Người Huế đọc không quen chữ Tra Am nên đọc trại ra thành Trà Am lâu ngày người ai cũng quen gọi tên chùa là Trà Am.

Chánh điện (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Mới đây Thượng Tọa Trí Quang có dịch một tài liệu về Hòa Thượng Viên Thành, xin trích một đoạn:
“Ngài là chắt nội của vua Gia Long; người thuộc Phòng Định Viễn Quận Vương. Thế danh của Ngài là Công Tôn Hoài Trấp, sinh vào giờ Sửu, ngày Bính Tuất, năm Tự Đức thứ 32 (1879); tức là ngày 17 tháng 11 năm Kỷ Mão. Thân sinh của Ngài là Công tử Tĩnh Quỵ, vốn công tử thứ 38 con của Hoàng tử Nguyễn Phúc Bính (1797-1863); thân mẫu là bà Vũ Thị Dần, con gái của ông Vũ Văn Lợi. Như vậy, quê nội của Ngài là huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; còn quê ngoại người xã Xuân Mỵ, huyện Hải Lăng, Quảng Trị.”

Là con trai thứ ba trong một gia đình danh gia vọng tộc và là cháu con của một vị vua đã khai sáng nên cơ nghiệp triều Nguyễn, nhưng tuổi thơ của Ngài không phải theo định kiến tất nhiên như người đời thường nghĩ. Ngược lại, thực tế của cuộc đời đã làm tan tác bao hoài bão tốt đẹp, cuốn phăng sự bình an sinh sống của một gia đình dẫu là thứ dân cũng có được. Ngay từ lúc Ngài chào đời, những sự kiện cuối trào Tự Đức đủ đun nóng tình thế nội triều và đất nước ở thế lửa bỏng dầu sôi, đến nỗi chưa đầy một năm sau đó (ngày 25 tháng Chạp 1880) triều đình đã chính thức sang cầu viện nhà Thanh. Cái nghèo khó là chuyện riêng mang cam chịu, nhưng tình thế đất nước như vậy dù là hàng dòng dõi vua chúa, song thân Ngài cũng không thể dững dưng, ít nhất là chọn riêng một thái độ rẽ hướng nào đó cho phải đạo.

Hòn non trước chùa (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Năm Quý Mùi (1883) – năm Tự Đức cuối cùng, thân mẫu Ngài qua đời trong cảnh thiếu hụt, để lại nguyên trạng nỗi lo toan vào cội nguồn duy nhất còn lại là phụ thân. Năm ấy Ngài chỉ mới hơn bốn tuổi đầu, hãy còn nhiều ngơ ngác, vô tư. Có lẽ như thế sẽ tốt hơn để Ngài sớm nhận ra vì sao cuối năm ấy vua Dục Đức (1883-1883) chỉ lên ngôi được ba ngày đã phải chết tức tưởi.

Năm lên 10 tuổi, Kỷ Sửu (1889), chỉ sáu năm thôi mà bao biến thiên dồn dập với những đời vua nối tiếp nhau: Hiệp Hòa – Kiến Phúc – Hàm Nghi – Đồng Khánh đi vào ngõ tối tăm, tủi nhục, chưa đầy một năm mà ba vua bị giết; cha Ngài cũng qua đời trong năm này và Ngài phải sống cuộc đời “cô ai tử” rất đau buồn.

Lều thư pháp (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Năm Canh Dần (1890) lúc 11 tuổi, lần đầu tiên Ngài được đi học, điều đó với Ngài là một bước ngoặt không kém một niềm vui ấu thơ nào. Với người hiểu chuyện thì đó lại là một sự miễn cưỡng còn sót lại nơi người dì ruột dành cho Ngài chứ không là của một dì ghẻ, dù có muộn màng nhưng vẫn là một tình cảm đáng trân trọng.

Đời Ngài lại thêm những nghiệp quả đầy nghịch duyên trái ý, bởi sự phân biệt con em hoàng tộc với đẳng cấp bần hàn luôn được thầy dạy học quan tâm. Bị liệt vào đẳng cấp thứ hai qua lớp áo, cùng tuổi học muộn đã khiến Ngài cảm thấy bị xúc phạm. Để rồi không lâu sau đó, Ngài phải buộc lòng rời bỏ nơi mà những ngỡ rằng cuộc đời sẽ đổi khác, mà tìm đến với những cuộc vui của những đứa trẻ cùng đinh, để vùi lấp bớt nỗi cô đơn, lây lất của mình.

Cống qua khe (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)



Đến năm 15 tuổi, tức năm Bính Thân (1896), trong cuộc sống cô đơn lây lất ấy đã dẫn Ngài đến chùa Ba-la-mật, nơi có người anh rể con chú bác là Thanh Chân Viên Giác trụ trì, được Viên Giác Hoà thượng cho ở điệu. Đây mới chính là nơi an ổn, cắt đứt được nghiệp trần nghiệt ngã và là nơi thực sự thấm đượm tình yêu thương, mở bước sang trang sau này…

Năm 17 tuổi, tức năm Ất Vị, niên hiệu Thành Thái năm thứ 7 (1895), Ngài được Hoà thượng Viên Giác cho thế độ xuất gia. Đến năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901), Ngài được vào Phú Yên thọ Cụ túc giới, đậu Thủ Sa-di, được Tam sư Thất chứng trong Giới đàn, thưởng một bộ kinh Lăng Già Tâm Ấn, một bộ y quý và một bình bát thượng hạng do Trung Quốc chế tạo.

Trước khi viên tịch, Hoà thượng Viên Giác đã ban kệ phú Pháp và để chúc lụy cho Hoà thượng Viên Thành kế thế trú trì chùa Ba-la-mật. Kệ:

Phiên âm: Tào khê nhất phái thủy đông lưu,
Bình bát chân truyền bất ký thu.
Giáo ngoại bản lai vô biệt sự
Viên thành tâm pháp ấn tiền tu.

Tạm dịch: Tào khê một mạch chảy về đông
Bình bát đã trao đâu phải không
Ngoài giáo, xưa nay không hề khác
Ấn tâm pháp ấy quyết tu tròn.

Ngài được Pháp húy là Trừng Thông, thuộc thế thứ 42 dòng Lâm Tế chánh tông; nhưng là thế hệ thứ 8 của dòng Thiền Liễu Quán - Nam Hà. Ngài trú trì chùa Ba-la-mật khoảng 23 năm. Đến năm Khải Định thứ 8, Quý Hợi (1923), Hoà thượng lên ấp Tứ Tây, thôn An Cựu, huyện Hương Thủy, khai sơn ra chùa Tra Am.

Vườn Tháp (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Năm Giáp Tý (1924) Khải Định thứ 9, Ngài được cung thỉnh vào hàng Đệ nhị Tôn chứng ở Giới đàn chùa Từ Hiếu.

Chùa Tra Am ngày một tấn phát, được nhiều người tìm đến tu học và thỉnh giảng. Ngoài ra chùa còn là nơi danh lam được các hàng thức giả, nhà văn thơ trong hai triều Khải Định và Bảo Đại tìm đến ứng vịnh thi pháp, trao đổi đạo tình. Đặc biệt từng đón các Cao Tăng như ngài Tâm Tịnh ở chùa Tây Thiên; ngài Giác Tiên ở chùa Trúc Lâm; ngài Huệ Pháp ở chùa Thiên Hưng; ngài Phổ Huệ ở chùa Tịnh Lâm; ngài Từ Nhẫn ở miền Nam… tìm đến thăm nom và thư đạo. Đáng lưu ý hơn hết về giá trị của chùa Tra Am qua bài “Tra Am Ký” do Mai Tu Nguyễn Cao Tiêu viết, càng làm tăng thêm danh tiếng lẫn phong cảnh đạo vị nơi này.

Năm Mậu Thìn (1928) năm Bảo Đại thứ 3, Ngài đã an nhiên thị tịch tại chùa Tra Am, thọ 49 tuổi đời, 32 năm xuất gia tu tập với 27 Hạ lạp. Tháp bảy tầng của nhục thân Ngài được các đệ tử xây dựng bên phải chùa Tra Am, mặt hướng về phía Tây, nhìn ra dòng Tẩy Bát Lưu.
(còn tiếp)
Trần Công Nhung (2016)

Tin sách: Sách QHQOK bộ 16 tập (discount 50%). Từ 18/10 phát hành hai tác phẩm mới: Vào Đời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang). Xin liên lạc tác giả: email:trannhungcong46@gmail.com, Tel. (657)296-8727 hoặc thư về 1209 SW. Hopi St.,
Blue Springs, MO. 64015 (USA)

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp