Friday, 03/02/2017 - 08:15:38

Chùa Nam Tông ở Huế

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Cố đô Huế là nơi có nhiều chùa nhất nước. Trên 300 ngôi chùa, trong số có nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng: Thiên Mụ, Báo Quốc, Thánh Duyên... (Bắc Tông). Riêng phái Nam Tông (Nguyên Thủy) Huế có tám chùa. Huyền Không Sơn Thượng là chùa nổi tiếng hiện nay, lớn không phải do có những kiến trúc tự viện nguy nga kiểu chùa Bái Đính (Ninh Bình) mà do ý tưởng thâm hậu của đạo Phật được các Sư lồng vào thiên nhiên giữa núi rừng, trên diện tích 6,000 mét vuông. Huyền Không Sơn Thượng là một khung trời riêng của Phật giáo Nguyên Thủy. Trước khi đến thăm chùa Huyền Không, tưởng cũng cần biết qua quá trình tông phái Nguyên Thủy đã du nhập vào Huế như thế nào.


                                                             Chư Tăng Nam Tông


Theo sử liệu Phật giáo, ngôi chùa Nam Tông đầu tiên ở Huế là Tăng Quang Tự do Hòa thượng Hộ Tông và Hòa thượng Giới Nghiêm xây dựng vào năm 1954. Bốn năm sau (1958), chùa Tăng Quang tiến hành xây Chánh điện và ngôi Bảo Tháp tôn trí Xá-lợi Đức Phật Thích Ca. Năm 1963, Xá-lợi Đức Phật Thích Ca chính thức được cung thỉnh về tôn thờ tại Bảo Tháp của chùa cho đến nay.

Phật Giáo Nam Tông ở Huế bắt đầu bằng việc thành lập chùa Tăng Quang vào năm 1954 do Hòa thượng Hộ Tông và Hòa thượng Giới Nghiêm (trực tiếp là Hòa thượng Giới Nghiêm) chủ trương xây dựng.

Nếu như, Phật Giáo Nam Tông Việt Nam được khai sáng nhờ công đức của các ngài Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Thiện Luật, và Hòa thượng Bửu Chơn thì Phật Giáo Nam Tông cố đô Huế được khai sáng và du nhập bởi Hòa thượng Giới Nghiêm.


                                 Chùa Huyền Không Sơn Thượng (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Bốn năm sau (1958), chùa Tăng Quang tiến hành xây Chánh Điện và ngôi Bảo Tháp tôn trí Xá-lợi Đức Phật Thích Ca. Năm 1963, Xá-lợi Đức Phật Thích Ca chính thức được cung thỉnh về tôn thờ tại Bảo Tháp của chùa cho đến nay.

Tăng Quang Tự, tiếng Pàli gọi là Sangharànsyaràma, chùa toạ lạc ở số 2/3/ Kiệt 91, đường Nguyễn Chí Thanh,(1) phường Phú Hiệp, thành phố Huế. Bình dân thường gọi “chùa Áo Vàng” – cách gọi giản dị và mộc mạc dành cho ngôi chùa có những vị sư mặc áo màu vàng, không giống như quí Thầy những ngôi chùa ở Huế lúc bấy giờ .

Tại vùng này, ngày xưa có một địa điểm gọi là Hồ Ông Mười (tức ông Hoàng Mười) mà ngày nay được cải tạo thành trường phổ thông trung học Gia Hội. Lúc bấy giờ, ở Huế có Tăng mà không có Tự, nên ông Nguyễn Thiện Đông và bà Nguyễn Thị Cúc - một trong những thiện nam tín nữ đầu tiên hộ trì Tam Bảo của Phật Giáo Nguyên Thủy ở Huế, xin phép HT. Giới Nghiêm cho thành lập một ngôi chùa Phật Giáo Nguyên Thủy ở Huế để chư Tăng có nơi tu hành, Phật tử có nơi lễ bái.

                                     Chánh điện chùa Tăng Quang (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)


Được sự đồng ý của HT. Giới Nghiêm, hai ông bà Đông - Cúc nổ lực vận động và quyên góp tài chính để mua căn nhà số 1/1 đường Võ Tánh - Thành phố Huế và dựng ngôi chùa Tăng Quang Tự ngày nay. Chính nhờ đức tin của thiện nam tín nữ các giới đã thường xuyên hỗ trợ nên chùa Tăng Quang ngày một khang trang hơn. Cũng chính nhờ cơ sở này mà Phật Giáo Nguyên Thủy có nơi bám trụ và phát triển cho đến ngày hôm nay tại thành phố Huế.

Năm 1958, chùa được xây dựng lại với mô hình kiến trúc tân kỳ, không giống hình thức lúc ban đầu - chỉ là hình thức cải gia vi tự, tạm thời có địa điểm để chư Tăng cư ngụ hành đạo và hành pháp. Thời kỳ này chùa Tăng Quang tiến hành trùng tu chánh điện và xây dựng bảo tháp. Ngày khánh thành có sự chứng minh của Hoà Thượng Hộ Tông, Hoà thượng Bửu Chơn, Hoà thượng Thiện Luật cùng với hơn 60 vị tỳ kheo từ miền Nam ra tham dự.

Từ khi được xây dựng cho đến nay chùa Tăng Quang đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần, nhờ oai lực của Tam Bảo, nhờ đạo hạnh của chư vị tu sĩ, nhờ đức tin kiên cố và sự hỗ trợ không ngừng của thiện nam tín nữ; nhìn chung, lịch sử chùa Tăng Quang liên tục được tu bổ. Tuy vậy, trong quá trình từ khi thành lập đến nay, chùa cũng có những giai đoạn phát triển và cũng có những khó khăn do hoàn cảnh lịch sử nước nhà.
Về kiến trúc, chùa Tăng Quang cho thấy sự khác biệt so với những ngôi chùa khác: Không rườm rà đa dạng như chùa Tịnh Độ, không huyền bí thâm u như chùa Mật Tông, cũng không hồn nhiên, dung dị như chùa Thiền Tông. Chùa Tăng Quang với kiến trúc đơn giản cho ta cảm nhận nét giản dị, thực tế, trong sáng, thanh thoát, thâm trầm.

                                            Tăng Quang Tự (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Chánh điện thờ Phật, tuy không lớn nhưng đường nét kiến trúc hoàn toàn khác biệt với những ngôi chùa xứ Huế bấy giờ. Lối kiến trúc này mô phỏng theo kiến trúc Campuchia và Thái, tuy nhiên do thiếu tài liệu và chưa quen với mô típ kiến trúc và họa tiết trang trí chùa tháp Thái – Miên, nên những người thợ xây dựng thời ấy chưa thể hiện được nghệ thuật độc đáo, tinh xảo của mô típ kiến trúc này.

Thời kỳ thứ ba (1963) chùa Tăng Quang được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và hiện trạng ấy tồn tại cho đến ngày nay. Các công trình xây dựng trong chùa hiện nay gồm Chánh điện, Bảo tháp, Tăng xá, nhà khách, trai đường và linh đường. Ngoài Chánh điện và Bảo tháp, các công trình còn lại xây cất bình thường, không có gì đặc biệt về kiến trúc.

Kiến trúc cổng Tam quan, có ba lối vào, lối giữa rộng và lớn hơn lối hai bên. Trên mỗi cánh cổng của chùa Tăng Quang đều có trang trí. Cánh cổng giữa trang trí bánh xe tượng trưng cho Thập nhị nhân duyên, hai cánh cổng hai bên là bánh xe tượng trưng cho Bát chánh đạo, mặt tiền cánh cổng đắp dòng chữ “Tăng Quang Tự.”

Từ Tam Quan vào trong chùa du khách sẽ đi bằng hai lối tả - hữu. Ở giữa hai lối này đặt một cái chung đỉnh và một hồ sen bán nguyệt tự tạo, mặc dù kích thước nhỏ bé nhưng chung đỉnh làm cho ngôi chùa thêm phần oai nghiêm và hồ sen trắng làm cho cảnh chùa thêm thanh khiết, nhẹ nhàng. Qua một sân nhỏ là đến ngôi Chánh điện và tòa Bảo tháp tôn trí Xá-lợi Phật. Chánh điện và Bảo tháp được kiến tạo chung một không gian. Chánh điện ở tầng trệt, Bảo tháp được xây ở trên, trước thềm Chánh điện là bậc tam cấp, bên tả và bên hữu đều có tượng rồng đá chầu.

Trong Chánh điện có một pháp tòa để Sư giảng pháp và hai tủ Tam tạng Thánh điển Pàli tiếng Thái. Phía trái có một chuông đồng. Phía dưới là hai tủ Tam tạng kinh.

Chùa hệ phái Bắc Tông thường thờ Tam Thế Phật (quá khứ, hiện tại, vị lai), cùng thờ chư Bồ Tát: Ca Diếp Tôn Giả, A Nan Tôn Giả, Văn Thù, Đại Thế Chí, Quán Âm, Địa Tạng, do trong quá trình phát triển bị ảnh hưởng văn hóa từ nhiều quốc độ nên thờ nhiều vị Bồ-tát.

Chùa Tăng Quang – ngôi chùa Nam Tông lại khác biệt: trong Chánh điện chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca. Trên bệ thờ là tượng Phật toạ thiền. Bên phải là tượng Phật thời niên thiếu, bên trái là tượng Phật lúc nhập diệt. Cách thờ tự này cho ta thấy rõ tư tưởng cũng như giáo lý của hệ phái Nam Tông rất trung thành với giáo lý Nguyên Thủy.

Ở ngoài Chánh Điện, phía trái là Tăng xá hai tầng mới được xây lại vào năm 2000 – 2001, khi dãy nhà cũ dùng làm Tăng xá bị hư hỏng nghiêm trọng sau trận lũ 1999. Trận lụt lịch sử này đã làm hư hại chùa. Hiện nay cạnh Tăng xá còn có công trình kỷ niệm trận lũ lịch sử này. Công trình do bác sĩ Lý Văn Kim (USA) cúng dường, hoàn thành vào 1/2001. Sau lưng Tăng xá là nhà khách, sau Chánh điện là trai đường. Bên phải Chánh điện là nơi dạy học ngoại ngữ và Phật pháp cho các em thiếu nhi địa phương. Ngoại trừ Chánh điện, các công trình còn lại như Tăng xá, trai đường, nhà khách…đều xây bình thường để đáp ứng nhu cầu sử dụng.
Ngoài ra còn có hai cây Sala Long thọ trồng mỗi bên. Loài cây này tương truyền là nơi Đức Phật Đản sanh và Nhập diệt. Từ bên ngoài nhìn vào Chánh điện, du khách sẽ nhận ra vẻ tôn nghiêm, thanh tịnh và trầm hùng - nhờ dáng dấp uy nghi vời vợi của ngôi Bảo tháp.

                                         Chùa Huyền Không (I) (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Bảo tháp hình vuông, cao khoảng 25 mét, có sáu tầng mái. Nổi bật trên nền trời với biểu tượng tòa sen xòe cánh trên đỉnh. Mặt tiền của tầng tháp đắp nổi dòng chữ Sangharànsyaràma (Tăng Quang Tự) theo hình bán nguyệt, phía dưới dòng chữ là phù điêu Đức Phật ngồi thiền định, bên trái khỉ chúa dâng quả, bên phải bạch tượng quỳ hầu, mảng phù điêu này nhắc lại sự tích Đức Phật khuyên dạy các thầy Tỳ kheo ở thành Kosambi không được nên Ngài lặng lẽ vào rừng nhập hạ mà không một thị giả nào theo hầu. Trong thời gian nhập hạ, núi rừng chỉ có khỉ và voi là thị giả của Ngài. Dưới hình Đức Phật có dòng chữ “Theravàda” (Phật Giáo Nguyên Thủy) nằm ngay chánh môn của Phật điện.

                                             Chùa Thiền Lâm (Trần Công Nhung/ Viễn Đông)

Chùa Tăng Quang là ngôi cổ tự đầu tiên của Phật Giáo Nam Tông xứ Huế. Chùa là minh chứng sự thành công về hoằng dương Phật pháp của các vị tiền sư, đặc biệt là đại đức Giới Nghiêm. Hiện nay, trụ trì Chùa là Đại đức Tánh Hiền.
Trần Công Nhung
(2016)

(1) Trước 75, đường tên Võ Tánh, sau 75 đổi thành Nguyễn Chí Thanh. Cả hai vị đều là võ tướng, Võ Tánh chết theo thành Qui Nhơn khi bị quân Tây Sơn chiếm thành. Còn NCT thì chết vì gì và là ai thì không rõ, cũng như tên anh hùng huyền thoại Lê Văn Tám thay tên Lê Văn Duyệt... và nhiều trường hợp như thế nữa, không rõ sau này các sử gia đích thực sẽ nói gì.

Tin sách:
Sách Quê Hương Qua Ống Kính bộ 16 tập (discount 50%). Đã có hai tác phẩm mới: Vào Đời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang). Xin liên lạc tác giả qua email:trannhungcong46@gmail.com, hoặc điện thoại (657)296-8727, (816)988-5040, hoặc thư về địa chỉ: 1209 SW. Hopi St., Blue Springs, MO 64015

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp