Sunday, 17/03/2019 - 10:37:58

Chân dung Việt Nam: Những người Raglei bị quên lãng


 
Một xóm nhỏ Raglei ở Khánh Sơn, Ninh Thuận . (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Bài NGUYÊN QUANG

Thời vương quốc Chăm Pa thịnh vượng, Raglei là một bộ tộc nhỏ sống bên cạnh người Chàm, họ sống trong địa hạt quản lý của các vua Chăm và không có bất cứ thứ quyền lực nào trong hệ thống vương quyền Chăm Pa. Khi vương quốc Chăm Pa điêu tàn, người Chàm tứ tán, tộc người Raglei vẫn cứ phát triển một cách tự nhiên, sinh sôi nảy nở như một chiếc bóng mờ. Và họ cũng không có bất cứ thứ quyền lực gì ngoài tiếng đàn Chapi phiêu hốt trên cao nguyên, nơi rừng xanh bạt ngàn Bác Ái, Ninh Sơn, Khánh Sơn…, Ninh Thuận. Hiện nay, tộc người Raglei được xem là tộc người thiểu số đông nhất Ninh Thuận. Nhưng hầu như ít nghe và nói về họ. Có thể nói rằng đời sống Raglei khá đặc biệt.
 

Người Raglei chăn dê trên đồng, Ninh Sơn, Ninh Thuận (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Nghề chăn cừu, dê thuê và lượm phân

Người Raglei sống giữa cao nguyên nắng gió, dường như có từ thời thủy tổ của họ, giữa vùng đất thuộc vành đai Xích Đạo đầy nắng, gió và cát, những vùng nào khô cằn nhất thì người Raglei đến bám trụ, dùng đất bùn làm vách nhà, hái lá cọ, lá dừa, cỏ tranh mà che mái. Công việc của người Raglei cho đến thời điểm hiện nay vẫn là chăn cừu thuê cho người Việt, người Chàm (thời xưa, họ chỉ chăn cừu, dê thuê cho người Chàm) và lượm phân bò, phân dê khô bán kiếm sống.
 

Cậu bé tên Thuận này học lớp 4, 10 tuổi, đã có thâm niên 5 năm phụ cha chăn cừu. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Ông Chamalek Hoàn, làm nghề chăn cừu thuê ở Ninh Sơn, Ninh Thuận, chia sẻ, “Mình chăn cừu thuê được mười bốn năm nay rồi, cả nhà sống dựa vào nghề của mình. Trước đây lương thấp, giờ chủ trả lương cao lắm, được 23 triệu đồng ($990) mỗi năm. Mỗi tháng tính ra gần hai triệu đồng ($86).”
“Thường mức lương trung bình của nghề chăn cừu, chăn dê là bao nhiêu? Và công việc yêu cầu gì, làm những gì?”
 

Cha con cùng chơi game online, nghèo, không có ăn nhưng phải có cái để chơi. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Mức lương trung bình của người chăn cừu là một triệu đồng một tháng (tương đương $43), đây là khoản tiền khá lớn. Vì một gia đình xài từ tiền chợ, tiền ăn, tiền trả dầu mè, điện nước chừng 250 ngàn đồng mỗi tháng. Thêm các chi phí đi lại, xăng cộ, phải trái họ hàng làng xóm chừng 250 ngàn nữa. Như vậy mỗi tháng dư được chừng 500 ngàn đồng. Nếu không đau ốm thì dư, đau ốm thì không đủ, có khi chết bệnh vì không tiền.”
 

Nhà Raglei bằng phên vách nứa (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Người Raglei được cái ai cũng thật thà nên được chủ tin. Mình chăn cừu, chăn dê thì chủ giao cho mình một đàn cừu, đàn dê chừng 100 con hoặc nhiều hơn. Mình dắt nó đi tìm cỏ khắp núi đồi để ăn, có khi một năm mới quay về, có khi vài tháng, nếu như lông cừu bán có giá thì liên tục dắt về chuồng để chủ lấy lông rồi mình lại dắt đi. Giữ thuê phải đảm bảo không con nào chết, nếu dịch thì phải lùa về chuồng và báo cho chủ tiêm thuốc ngay, nếu không dịch thì mình lang thang rày đây mai đó, có khi quay về thì đàn cừu, dê đã nhiều gấp ba, bốn lần, có khi gấp mười lần.”
“Làm sao để người chủ biết được không bị mất con cừu nào?”
 

Cụ bà Raglei không biết mình bao nhiêu tuổi. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“À, chủ người ta cho mình đi chăn cùng với mấy con chó becgie của họ, nó giữ và cảnh báo, không có ai đụng vào được. Còn mình thì ngoài việc chăn cừu, chăn dê còn phải chăm chó và giữ chó. Bây giờ người ta bắt trộm chó, trộm dê nhiều lắm. Tính ra cũng khổ. Nhưng mà sống được. Quan trọng nhất là mình lượm phân để bán. Trung bình mỗi tháng bán cũng được một trăm ngàn đồng tiền phân (tương đương $4.5), chừng đó cũng đủ mua gạo. Nhưng mấy con chó becgie không phải là quan trọng nhất để giữ cừu mà người chủ tin vào mình. Người Raglei có tính thật thà, chưa bao giờ làm mất cừu, mất dê. Mình lùa cả ngàn con mà chỉ cần thiếu một con mình cũng nhận ra, có khi đi tìm cả đêm để bắt về.”
“Đêm chui vào rừng tìm dê, cừu, anh không sợ rắn rết?”
 

Nhà tường đất, lợp tôn của người Raglei (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Có chứ, nhưng quen rồi, cứ sợ rắn rết thì chết đói à. Chỉ cần đền chừng ba con thì coi như đi toi cả năm làm rồi!” Nói đến đây anh cười thoải mái, hồn nhiên như đang hả hê sau một sự phát hiện nào đó mới mẽ, còn người nghe lại thấy chua chát.
 

Bữa ăn của hầu hết các gia đình Raglei là cơm và rau củ quả rừng. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Những cuộc tảo hôn kỳ lạ và tiếng đàn chapi đã mất

Nói đến người Raglei, ngoài linh hồn chứa đầy gió du mục và tiếng đàn chapi vi vút, thê thiết của họ, có lẽ phải nói thêm về những mái ấm đặc biệt ra đời từ tập tục tảo hôn của họ. Nhưng tập tục tảo hôn của người Raglei cũng khá đặc biệt, nó khiến cho người chứng kiến phải suy nghĩ lại rằng có nên gọi đó là tảo hôn.

Bởi tảo hôn của người Việt xưa hay người Hmong, người Mường, Thái, Dao, Vân Kiều, Cao Lang… là cuộc hứa hẹn giữa cha mẹ hai đứa trẻ. Khi hai gia đình chơi thân hoặc làm ăn, trao đổi nông sản với nhau, nhà này có con trai, thấy nhà kia có con gái thì hứa hẹn làm sui gia và hai đứa trẻ không hề có tình cảm với nhau, thậm chí không biết mặt nhau, có nguy cơ trở nên mâu thuẫn và ghét nhau vẫn phải thành vợ chồng theo lời hứa hôn của cha mẹ hai bên. Đó là tục tảo hôn của người Việt xưa và các tộc người nói trên.
 

Phụ nữ này trông trẻ nhưng đã là bà ngoại và đang ẵm cháu. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Trái ngược hoàn toàn, người Raglei tảo hôn theo ý nguyện của người con gái. Nghĩa là tới tuổi dậy thì, người con gái Raglei cảm thấy có sự đòi hỏi về xác thịt (thường từ 13 đến 15 tuổi) thì cha mẹ để cho tự do ra ngoài bắt chồng. Thường thì cô gái Raglei nghỉ học vào độ tuổi này và ban ngày phụ giúp cha mẹ làm rẫy, nấu bếp, tối đến rủ nhau đi “bắt chồng.” Chàng trai Raglei (độ tuổi cũng ngang với các cô gái) nào được các cô gái để ý thì sẽ được rủ đi chơi. Trước khi các cô gái bắt chồng, cha mẹ của họ đã dạy cho họ cách để thu hút các chàng trai và cách để trở thành vợ chồng. Chàng trai nào bị người đẹp bắt, rủ rê ra bìa rừng xong thì về trở nên ngơ ngác, hết muốn đi học, cũng chẳng màng ăn uống mà chỉ mong đêm tới nhanh để được ra rẫy.

Sau những ngày rủ rê ra rừng là lễ cưới cho cặp trẻ này, mọi sự tổ chức, cưới hỏi này nọ đều do nhà gái đảm nhận, tục cưới của người Raglei là cô dâu đến rước chú rể về nhà mình. Sau đám cưới, chàng trai vĩnh viễn thuộc về nhà gái. Và cũng có một điểm khá thú vị là tuy tảo hôn nhưng hầu hết các cặp Raglei đều sống với nhau trọn đời, chưa có vụ ly hôn hay bỏ nhau nào trong tộc người Raglei hàng chục ngàn mái nhà này.
 
 
Hai dì cháu (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Chị Chamaleik Du, một người mẹ 23 tuổi, có con đầu 8 tuổi, con thứ 1 tuổi, chia sẻ về hôn nhân của chị, “Hiện tại mình vẫn nhờ cha mẹ nuôi, vì cưới nhau trẻ quá nên chồng về chủ yếu là đi chơi, uống rượu, thỉnh thoảng có ai kêu làm thuê thì làm, nói chung kinh tế còn khó khăn lắm!”
“Ở đây người có chồng dưới 18 tuổi giống như em có nhiều không?”

“Đâu có, không có ai có chồng dưới 18 tuổi cả, em có chồng năm 20 tuổi, bạn em đều có chồng trên 18 tuổi, chứ mà lấy chồng sớm thì nhà nước bắt rồi sao?!”.
“Lúc nãy em nói con trai đầu em mấy tuổi anh quên rồi?”
“Dạ nó tám tuổi”.

“Còn em thì năm nay 23 tuổi, đúng không?”
“À dạ!”
“Vậy là em không thành thật với tụi anh rồi, tụi anh không phải người nhà nước, nên em đừng lo, cứ thật lòng với nhau đi!”
“Dạ, thực ra thì tụi em sợ lắm, trước đây tụi em từng gặp cán bộ hỏi giống anh hỏi, sau đó bị phạt tiền vì tội có chồng sớm gì đó và không có đăng ký kết hôn. Mà tụi em ít ai đăng ký kết hôn lắm, vì nghe nói việc đó có lợi cho chia tài sản khi bỏ nhau, mà người Raglei có bao giờ bỏ nhau, có tài sản gì đâu để chia, nên không cần đăng ký. Khai sinh con thì theo họ mẹ, bởi phụ nữ bắt chồng mà! Nếu đăng ký kết hôn thì con được lấy họ cha, nên tụi em cũng không cần đăng ký vì con lấy theo họ mẹ…”. (Nói xong cưới nắc nẻ).

“À, em biết ở đây có ai chơi đàn chapi không?”
“Đàn chapi há? Ông Trần Tiến chứ ai!”
“Ông ấy chỉ viết về đàn chapi thôi, ý anh muốn hỏi là còn nghệ nhân hay người nào chơi đàn chapi không?”

“Chắc là ở nơi khác, chứ ở đây làm gì còn ai chơi đàn chapi, giờ họ hát karaoke hoặc chơi đàn điện tử gì đó chứ, cứ uống rượu vào là hát thôi!”

Nói đến đây, tự dưng tôi thấy mọi chuyện trở nên lạnh lùng và không muốn hỏi Du thêm nữa. Bởi cái nơi cao nguyên lộng gió vi vút tiếng đàn chapi trong ca khúc của nhạc sĩ Trần Tiến chính là Khánh Sơn và Bác Ái, hai huyện miền núi quanh năm sương mù phủ đồi sớm, nắng cháy ban trưa và mây phủ buổi chiều và lạnh cóng khi đêm buông xuống. Có thể nói rằng vẻ đẹp hoang sơ và cái nghèo thê thiết của vùng núi cùng với đời sống Raglei gắn lên đó đã tạo nên vẻ đẹp huyền nhiệm, hiếm thấy.

Tuy nhiên, khi các loại loa thùng kẹo kéo và karaoke xuất hiện nơi đây, mọi thứ vốn yên bình trong nghèo khổ trở nên đảo lộn và nguy cơ nát rượu, chuyển từ nghèo sang đói đang hiện ra trước mặt những người trẻ Raglei, nhất là khi các chàng trẻ được cưới về nhà vợ, được chiều chuộng như một vật cưng mà các cô gái đã may mắn nhặt được trên đường đời.

Rời cao nguyên nắng gió, câu hỏi cứ quấn lấy tâm trí tôi lúc này là “Tương lai nào cho họ? Tiếng đàn Chapi đã đi về đâu?” Có lẽ, đây là câu hỏi ngớ ngẩn và chẳng bao giờ tìm thấy câu trả lời cho nó!

(Tháng Ba 2019)
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp