Thursday, 14/01/2021 - 09:05:01

Cái lạnh và cái đói của người vùng cao


Không biết nên trách ai khi người vùng cao bị biến thành 'vật nuôi' thời du lịch. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 

Bài NGUYÊN QUANG

Nói tới miền núi Việt Nam, dường như đi từ Nam ra Bắc, nơi nào có núi non, có những tộc người thiểu số sống co ro giữa rừng lạnh thì nơi đó có đói, có thiếu thốn, lạc hậu và có cả những bất công từ rừng. Nghĩa là những cánh rừng người thiểu số đã canh tác từ đời này qua đời khác kể từ lúc họ chấm dứt du canh du cư cho đến nay, trong chốc lát bị cán bộ nhà nước, bị các nhóm lâm tặc dựa hơi quyền lực đốn hạ không thương tiếc, và những cánh rừng sinh tồn của người thiểu số chẳng mấy chốc hóa thành khu sinh thái của kẻ xa lạ, người thiểu số cũng bị hô biến thành vật sinh thái. Và, đói như một bài ca triền miên của người thiểu số, đói như một định mệnh.


Giấc mơ du canh du cư

 
Lại một mùa đói và lạnh, cây củ mới gieo trồng không biết trụ được bao lâu. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Giữa thời đại kinh tế phát triển, nhà nào tệ lắm cũng có cái ti vi để coi, sao lại nói đói như một định mệnh? Và thời đại tiến bộ, các tộc người thiểu số làm quen với nếp định canh định cư, không rày đây mai đó nữa, làm sao họ phải kêu than đau khổ? Thế nhưng có đó, ông bà nói “cháy nhà mới ra mặt chuột” là vậy? Bình thường, làm qua ngày, đắp đổi, dư vài đồng thì mua rượu, mua miếng thịt để ăn nhậu, giải sầu, còn khi giáp hạt, đói là cái chắc, nhưng cái đói giáp hạt dễ chịu hơn cái đói thời thiên tai dịch họa triền miên như năm nay.

Chị Vàng Thị Phúng, người Cao Lang, ở Yên Bái, buồn bã nói, “Năm nay có đến hai tháng Tư, mùa giáp hạt kéo dài thêm một tháng, hơn nữa không có thu nhập do dịch bệnh, giờ thì lạnh quá, hoa màu, rau củ gì chết hết, đói rồi!”


Xa xăm đâu đó, được du canh du cư lại là ước mơ của người vùng cao. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Mình là đồng bào thiểu số, đói có đảng và nhà nước lo, sao chị lo dữ vậy?”

“Ừ, cái đảng với cái nhà nước nó cũng lo cho dân mình lắm chứ. Nhưng lo thì lo vậy chứ làm sao hết đói được, vì lo vài chục ký gạo cho mỗi gia đình như vậy có nấu cháo cũng chẳng được bao lâu. Giá như cái đảng với cái nhà nước lo cho mình chu đáo, tình thật hơn!”

“Thế nào là lo chu đáo với tình thật vậy chị?”

“Lo chu đáo, lo tình thật là không có phải cho vài ký gạo hay vài chục ký gạo để cầm hơi, cũng không cần vài tấn gạo đâu, cũng không cần thịt cá gì đâu, bởi người dân bản tự biết đi làm rừng, tự biết bẫy con hoẵng, con chuột về mà ăn, tự biết nuôi con lợn, con gà, con cá mà sống qua ngày, không cần những thứ đó, cái cần là có chỗ để nuôi, có chỗ để trồng. Bây giờ hễ cánh rừng nào màu mỡ thì bị thu hồi, rừng của dân bản còn ít quá, lấy gì mà canh tác, mà sống. Rồi hơn nữa cái nhà nước trung ương từng cho mỗi gia đình mười mấy triệu đồng để cải tạo cuộc sống, thế nhưng có thấy đồng nào đâu, chỉ thấy máy cày, máy kéo về ủi đất trồng sắn (khoai mì) rồi bảo bà con chăm sóc lấy mà ăn, cuối vụ bán sắn không được một triệu đồng, vậy mười mấy triệu còn lại đốt vào dầu mỡ, máy cày máy kéo sạch, trong khi đó bà con cần cái tiền mười mấy triệu ấy để tự trồng, bà con nghèo, thừa sức lao động mà thiếu tiền, đâu có muốn phải thuê như vậy!”

 
Chưa có năm nào đói và lạnh như năm nay, người miền cao chỉ biết thở dài. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Sao lúc đó chị và bà con không đề nghị nhà nước cấp thẳng tiền để mình tự làm?”

“Nếu nói được thì bà con nói rồi, họ đâu có coi chúng tôi là con người, họ vẫn giữ cái suy nghĩ rằng chúng tôi mọi rợ, lạc hậu, không tự nuôi sống mình được nên mới trồng sắn giùm, thử hỏi chúng tôi sống nhiều đời nhờ vào trồng sắn, trồng rừng, thế mà họ sợ chúng tôi không biết làm, thuê người làm giùm, lấy hết tiền của nhà nước cấp cho chúng tôi. Chúng tôi có cái ti vi, chúng tôi biết mỗi năm cái nhà nước cấp tiền cho dân nhiều lắm, cái đảng cũng lo cho dân lắm. Nhưng cái nhà nước và cái đảng địa phương nó nghĩ cách ngốn hết tiền của dân. Cuối cùng thì tới mùa lạnh chúng tôi không có cái áo ấm cho ra hồn mà mặc, chúng tôi thiếu ăn, chúng tôi có nguy cơ bị sạt lỡ núi bất kỳ giờ nào bởi vì họ phá núi, vặt cây như vặt lông gà. À há, người dưới xuôi sợ vặt thuế như vặt lông gà thì người miền cao chúng tôi cũng sợ vặt cây rừng như vặt lông gà. Rừng mà bị vặt thì rễ cây không thể giữ núi, nó sạt xuống thì chúng tôi chết là chắc chắn rồi!”


Không phải ai cũng may mắn còn giữ được con trâu, con bò qua mùa buốt lạnh. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Theo chị nhìn thấy thì bà con trong bản năm nay sẽ ăn Tết ra sao?”

“Ui Tết nhứt gì nữa anh ơi! Mình trồng được vài cây đào mong mang ra thị trấn bán, vừa rồi rét quá, nó hư nụ hết rồi. Còn trước đây bí quá thì lên núi, xin thần rừng mà chặt vài nhánh hoa ban mang ra chợ bán cho người thành phố, họ mua về chưng hoặc bán kiếm lãi. Mấy năm nay họ dùng xe tải lên chặt sạch chở về, bà con cũng hết hi vọng rồi! Năm nay vẫn còn một ít ngô, ăn ngô thế cơm cũng tốt nhưng ăn lâu thì ngán lắm và nguy cơ béo phì hoặc bủng beo, không tốt. Nhưng giờ còn gì thì dùng nấy chứ biết sao!”

Cùng tâm trạng như chị Phúng, chúng tôi hỏi thăm bất kỳ người đồng bào thiểu số miền núi ở bất kỳ huyện miền núi nào, tỉnh nào từ Đông Bắc sang Tây Bắc, đều nghe điệp khúc đói và lạnh. Đáng sợ hơn là người HMong ở Sapa, mọi năm họ sống dựa vào bán lẻ trong du lịch, từ việc bán cái khăn thêu cho đến bí quá thì cho trẻ con ngửa tay xin tiền khách. Năm nay mọi thứ đều dựa vào nông nghiệp. Mà một vùng gần như từ bỏ nông nghiệp đã lâu, làm nông nghiệp mang tính chất trình diễn nhiều hơn là làm để ăn, sống dựa hoàn toàn vào các phiên chợ du lịch và khách du lịch hằng ngày. Đến mùa dịch cúm, du lịch đóng cửa gần một năm trời, họ không than đói mới là chuyện lạ!


Những vật nuôi du lịch mang đau khổ



Thịt trâu thịt bò trở thành món hàng dù không muốn cũng phải bán. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Đến giờ, không ít người thiểu số nhận ra rằng họ đã đi quá xa những gì thuộc về họ, nghĩa là bản năng sinh tồn nơi rừng thiêng nước độc của họ đã mất đi rất nhiều, khả năng tự chống đỡ với thiên tai, thời tiết giá lạnh cũng bị mất và hơn nữa là bản năng gốc của một tộc người đã bị đánh cắp bởi cơn gió du lịch. Khi du lịch “đứng hình” thì đời sống của các tộc người thiểu số cũng đóng băng theo.

Anh Lý A Trung, một người HMong ở Bắc Hà, Lào Cai, chia sẻ, “Nói thì thành chuyện buồn, chuyện lẽ ra không nên nói. Nhưng năm nay sẽ đói hơn bất kỳ năm nào và lạnh hơn bất kỳ năm nào!”


Khi du lịch 'đứng hình', đời sống người thiểu số cũng đóng băng theo. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Anh nói như vậy có nghĩa là sao? Tôi vẫn chưa được hiểu lắm!?”

“Đói hơn tất cả mọi năm vì dịch cúm kéo dài quá, không có bất kỳ công việc gì để làm, chỉ dựa vào tài sản ngô khoai sắn lúa, mà ở miền núi thì tài sản này eo hẹp lắm. Lạnh hơn tất cả mọi năm thì cái lạnh đóng băng, làm tuyết thấy rồi đó. Mà đã lạnh, lại thêm cái bụng đói, tương lai mờ mịt vì chẳng biết tính đằng nào cho ra cái miếng ăn nên nó sẽ lạnh hơn tất cả mọi năm. Buồn lắm. Mà buồn hơn cả là đồng bào đã bị biến thành vật nuôi, giờ mới vỡ lẽ thì chuyện cũng đã quá muộn!”


Hủ măng chua trở thành thức ăn cầm cự qua ngày, thức ăn chống lại cái rét ở xứ Bắc. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Biến thành vật nuôi nghĩa là sao hả anh Trung? Ai biến?”

“Thì thời du lịch, người ta không còn lo lắng về đám ruộng hay vạt rừng như xưa, mà có muốn lo cũng không còn ruộng với rừng đâu mà lo, bán cho du lịch, bán tháo, nếu không bán thì cũng bị trưng thu, hù dọa này nọ, thôi bán quách. Rồi lại đi làm ruộng theo kiểu trình diễn cho người ta chụp hình là chính, có tiền quá mà. Đến khi du lịch bị đóng cửa do dịch thì người ta lại há miệng chờ sung rụng. Đói là cái chắc. Trong khi đó, người ta đang biến đời sống của mình thành sản phẩm trình diễn du lịch, rồi lại biến tộc người của mình trở thành vật nuôi của du lịch. Cái này chẳng biết trách ai, trách là do người ta ham tiền quá mà cũng chẳng có ai chỉ dạy, người dạy mình không thì không có mà người lừa mình thành súc vật thì có mà đầy! Buồn thôi, uống rượu thôi!”


Khi rừng núi oằn mình gánh những cổ máy cũng là lúc đời sống người miền cao bị đe dọa. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Trời lạnh này chắc bà con mình uống rượu dữ lắm. Vậy có tốn ngô để ăn không? Vì rượu này làm từ ngô?”

“Rượu thì phải tốn ngô, nhưng trời lạnh mà không có ly rượu trong bụng chì chết cóng sao, ở đây con nít cũng biết uống rượu, ít hay nhiều thôi. Đời sống cứ quanh quẩn với núi rừng, quanh quẩn với cái nhà sàn ọp ẹp, đến mùa lại đi, vô vị, chán phèo như vậy không uống rượu thì biết làm gì đây!”

“Trẻ con ở đây chịu rét kinh khủng thật, mình lạnh run người mà chúng cứ đi lại như không có chi!”

“Quen thôi anh ơi! Phải đi lại cho nó ấm người, chứ ngồi một chỗ thì chết cóng đấy. Mà trời lạnh thì khó ngủ, chúng không có áo ấm, không có chăn chống lạnh, đắp miếng mền mỏng lét thì chúng ngủ không được. Chứ chúng nó mà ăn đầy bụng, có chăn ấm thì giờ chúng nó ngủ ngon lành rồi chứ có đâu mà đi lang thang vậy. Hỏi anh mình người lớn đây mà phải có rượu giải khuây, tụi con nít ở đây không có bất cứ thứ đồ chơi gì, làm sao chúng ưa đi lại được. Chẳng qua do đói quá, lạnh quá chúng đi vậy thôi!”


Giấc mơ chăn mền ngày lạnh vẫn ám ảnh biết bao đứa trẻ vùng cao! (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Câu nói của anh Trung khiến tôi giật mình nhớ đến hình ảnh những con sói hoang mùa rét lạnh, chúng đi lang thang trong tuyết để kiếm cái ăn, chúng không ngủ được, mắt chúng đỏ ngầu. Có những đứa bé mắt đã đỏ ngầu vì lạnh. Và chúng không còn may mắn được làm sói đồng hoang, mà chúng đang là vật nuôi du lịch. Âu cũng là số phận của người nghèo! Tự dưng tôi thấy buồn và lạnh, cuối năm, hai chữ ấy nghe thê thiết lạnh giữa núi rừng!

Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

advertisements
advertisements